Diễn đàn chó thuần chủng Việt Nam

Go Back   Diễn đàn chó thuần chủng Việt Nam > Giải trí > Chuyện Đông - Tây

VKA

Reply
 
Thread Tools Display Modes
  #1  
Old 03-05-2011, 02:47 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default Saigon Xưa

Rạp xi-nê S*i Gòn xưa

Có thể nói, đặc điểm nổi b*t của xi-nê S*i Gòn thời xưa l* có nhiều rạp chiếu ‘thường trực’ (permanente), thường từ 9g sáng đến 11g đêm v* khán giả có thể mua vé v*o xem bất cứ lúc n*o cũng được. Xem chán thì ra. Cũng có người lợi dụng những rạp máy lạnh để đánh một giấc ngủ trưa. Th*t l* một công được cả đôi việc. Ngủ chán, thức d*y xem tiếp!

Tuy v*y, chiếu thường trực cũng có điều bất tiện nếu bạn v*o rạp giữa lúc phim đang chiếu. Vai ch*nh lúc bạn v*o xem có thể bị cụt chân ở phần cuối trong khi không biết rõ ‘lại lịch’ tại sao chân lại bị cụt. Chẳng khác n*o chỉ thấy người S*i Gòn ng*y nay m* không biết xưa kia người S*i Gòn sống, l*m việc v* ăn chơi ra sao! Chỉ tại không v*o đúng lúc đầu phim.

Cũng có khi người ta v*o rạp xem phim m* th*t tình chẳng biết đang chiếu phim gì. Có những cặp tình nhân v*o đấy để tâm sự nhỏ to, có những cặp bạo hơn, tuy l*m khán giả nhưng… cũng đóng phim. Có điều trên m*n ảnh l* phim trinh thám hay phim chiến tranh nhưng ở h*ng ghế khán giả lại đóng phim tình cảm ướt át.

V*o thời Đệ nhất Cộng hòa, mỗi khi bắt đầu một xuất chiếu phim khán giả phải đứng d*y ch*o cờ v* ‘suy tôn Ngô Tổng thống’ với những lời ca tụng lãnh tụ Ngô Đình Diệm: “… To*n dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm…”. Câu sau cùng được trẻ con chế th*nh… “To*n dân Việt Nam muốn ăn tô hủ tiếu, tô hủ tiếu, tô hủ tiếu ngon ghê…

Trước khi v*o phim ch*nh, các rạp còn ‘chiếu dạo’ những phim sắp tới theo chương trình của riêng từng rạp. Dĩ nhiên l* chọn cảnh n*o hấp dẫn nhất để giới thiệu cùng khán giả, đó cũng l* một cách quảng cáo của các hãng nh*p cảng phim từ nước ngo*i. Trong trường hợp phim ch*nh quá ngắn, các rạp câu khách bằng cách chiếu thêm phim phụ như phim của Charlot, phim thời sự hoặc đôi khi còn có phụ diễn tân nhạc cho... xôm tựu.


Xi-nê S*i Gòn có một truyền thống phải nói l* độc đáo với các tờ program (chương trình) phát cho khán giả khi đến mua vé xem phim. Trên tờ program của phim, khán giả có thể đọc để biết đại khái nội dung phim v* tên các t*i t* trong phim. Đối với dân ghiền xi-nê, có một cái thú tương tự như sưu tầm tem thư, họ sưu tầm program.

Ông anh tôi l* một trong những người sưu tầm program thuộc hạng ‘gạo cội’. Ông có những tờ program từ các rạp xi-nê ngo*i H* Nội v*o cuối th*p niên 30 (trong khi mãi đến năm 1946 tôi mới ra đời)! Khi di cư v*o Nam, h*nh trang của ông có chỗ cho các tờ program quý giá đó. Chỉ tiếc rằng bộ sưu tầm đó nay đã thất lạc, nếu không, chắc chắn trong Hồi Ức n*y sẽ có hình ảnh của những tờ program ‘cổ lai hy’…

Tờ program của rạp Rex,
phim Deux Hommes Dans La Ville
với Alain Delon, Jean Gabin v* Michel Bouquet


Ở ph*a dưới cùng, góc phải của tờ program phim Deux Hommes Dans La Ville có dòng chữ “Visa 214/74 ng*y 26-10-74” khiến tôi thắc mắc không biết có phải phim n*y có visa nh*p khẩu S*i Gòn được cấp ng*y 26/10/74 (?)

S*i Gòn xưa có rạp Cinéma Catinat chiếu thường trực, rạp nằm trong h*nh lang (passage) nối liền đường Tự Do (Catinat) sang đường Nguyễn Huệ (Charner). Đây l* rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Việt Nam, v* tất nhiên cũng l* rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Đông Dương.

Ciné Catinat có giá vé đồng hạng 10 đồng, rạp còn bán 1 t*p 10 vé giá 80 đồng, mua nguyên t*p khán giả lợi được 20 đồng. Rạp xi-nê thuộc loại ‘t* hon’ n*y về sau chuyển đổi th*nh phòng tr* ca nhạc với nhiều tên như Au Chalet rồi Đêm M*u Hồng, nơi ra mắt của ban nhạc Phượng Ho*ng thời kỳ trước khi nh*p với ca sĩ Elvis Phương.

V*o th*p niên 1960, miền Nam an bình, thịnh vượng. S*i Gòn đẹp hơn, sang hơn cho nên nhiều rạp xi-nê hiện đại ra đời. Những rạp mới n*y có m*n ảnh lớn, gọi l* Cinemascope, (m*n ảnh đại vĩ tuyến), m*u Eastmancolor, máy lạnh tối tân khiến những rạp nhỏ, xưa, với máy chiếu kêu lạch xạch, quạt trần thổi vù vù, dần dần ế khách.

Chủ Cinéma Catinat phá rạp, xây th*nh chung cư. Trường hợp rạp xưa, cổ lỗ, không có khách cũng xẩy ra với rạp xi-nê Asam ở Dakao nằm trên đường Ðinh Tiên Ho*ng gần Mì cây Nhãn. Nếu từ Casino Dakao đi lại thì rạp Asam nằm bên lề phải, còn Mì Cây Nhãn nằm xéo bên lề trái. V*o khoảng năm 1965 rạp Asam cũng bị phá đi v* cũng lại xây appartment.

Khi Hồi Ức n*y đến tay một số thân hữu, anh Trịnh Văn Du, cựu Giảng viên Sinh ngữ Quân đội, từ Canada g*i mail về góp ý bổ sung v* chỉnh s*a về Mỳ Cây Nhãn như sau:

“… Mỳ Cây Nhãn không phải xéo xéo rạp Ciné Asam, m* l* đối diện với trường tiểu học ĐTHo*ng. Tại sao gọi MCN? Bởi vì rằng thì l* ngay trong sân, trước xe mỳ (hồi đầu chỉ có một xe mỳ, như loại đẩy bán rong), có hai ba cây nhãn ăn quả. Khu nh* n*y (l* một nhóm nh* lúp xúp chung nhau) thấp hơn mặt đường ĐTH, có sân đất trước mặt (vì thế mới trồng cây được); muốn v*o người ta phải bước xuống hai ba b*c thang gạch.

Sau n*y khi quán mỳ n*y nổi tiếng, sân lát gạch sạch sẽ. Hình như khu đất n*y của Ch* V* (hồi ấy chủ đất đa số l* người Ấn độ?). Sang th*p niên 60, một developer, không biết có phải l* VN hay thế n*o, mua khu đất đó, v* xây th*nh một chung cư hai ba tầng….

Mỳ CN nằm bên số chẵn, khoảng giữa PTGiản v* Tự Đức. Đi qua MCN, hướng một chiều ĐTHo*ng (hồi đó ĐTH một chiều theo hướng Saigon đi Cầu Bông) [ng*y nay ĐTH cũng vẫn l* đường một chiều – Tác giả bổ sung], độ bốn năm căn nh*, qua một ngõ hẻm nhỏ thì tới một tiệm ăn Tây lâu năm, cũng khá nổi tiếng khu Đakao, đó l* tiệm Chez Albert. Tiệm n*y tồn tại hình như tới mãi 1975 [Chez Albert giờ đã đóng c*a, có thể l* di tản hoặc vượt biên – Tác giả bổ sung]”.

Cũng xin cám ơn một người bạn khác - anh Đỗ Văn Kiên, cựu giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội hiện định cư tại Mỹ - đã bổ sung thêm rạp Long Phụng v*o danh sách rạp xi-nê S*i Gòn xưa:

Rạp Long Phụng nằm trên đường Gia Long (bây giờ l* Lý Tự Trọng) chuyên trị dòng phim thần thoại ca-vũ-nhạc Ấn Độ. Có thể Long Phụng chuyên về phim Ấn vì địa điểm của rạp rất gần với Chùa Ch* V* trên đường Trương Công Định chăng? Nam t*i t* Ấn Độ ăn khách nhất thời đó l* Rama Rao, ông n*y sau thời 80-90 l*m Thống đốc bang Pradesh thuộc miền Nam nước Ấn”.

Xin nói thêm, một số ch*nh khách khác cũng xuất thân từ điện ảnh như Rama Rao. Nổi b*t nhất trong những trường hợp n*y l* Richard Nixon, Tổng thống Hoa Kỳ; diễn viên phim h*nh động người Mỹ gốc Áo, Arnold Schwarzenegger, trở th*nh Thống đốc tiểu bang California v* Joseph Estrada, Tổng thống Philipin, cũng xuất thân từ một t*i t* điện ảnh.

***


Năm 1960 rạp xi-nê Kinh Đô được xây mới trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ nhìn sang Trụ sở Tổng liên đo*n Lao công Việt Nam. Rạp Kinh Đô mới khá hiện đại v* đẹp. Máy chiếu phim v* máy lạnh đều thuộc loại mới nhất. Khoảng năm 1961, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mướn rạp Kinh Đô l*m nơi chiếu phim cho nhân viên v* gia đình l*m việc ở S*i Gòn đến xem.

Nếu tôi không lầm, hình như v*o năm 1962, đặc công VC cho nổ bom plastic trong rạp n*y. Có thể gọi đây l* vụ đánh bom đầu tiên ở S*i Gòn. Sau vụ nổ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ không mướn rạp Kinh Đô nữa v* rồi rạp n*y được phá đi, khu đất đó xây một tòa nh* l* trụ sở USAID với nhiều tầng lầu.

Những phim chiếu ở rạp Rex đường Nguyễn Công Trứ (không phải l* rạp Rex đường Nguyễn Huệ sau n*y) l* những phim cao bồi, Tarzan, Zoro… Phim cũ, chiếu đi chiếu lại nhiều lần nhưng vẫn có người đến xem.

Có khi chiếu được một lúc, đang hồi gay cấn thì bị… đứt phim, phải ngưng để nhân viên phòng máy nối phim. Đèn trong rạp b*t sáng. Người lớn, con n*t phản đối, húyt gió, la hét rần rần, không thua lúc Tarzan đu giây đến cứu người đẹp Jane, hay Zoro phóng ngựa đến giải cứu người đẹp Juanito!

Tôi nhớ rạp Rex ‘cũ’ ở con đường sau rạp Đại Nam m* Đại Nam l* rạp sang trọng nhất S*i Gòn thời đó do ông Ưng Thi l*m chủ khi Rex trên đường Nguyễn Huệ chưa có mặt. Phim mới được chiếu trước tiên ở đây v* một v*i rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách lên lịch chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn sẽ có người đi xe gắn máy giao cho rạp kế tiếp.

Có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim Pillow Talk (năm 1959 (?) do Rock Hudson, Doris Day đóng vai ch*nh) thì anh ch*ng đi giao cuộn phim, hình như mải mê uống nước m*a (?) hay sao đó m* để mất cuộn phim phải giao. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đ*nh phải ngưng lại v* đem phim khác ra chiếu tạm. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải nh*p phim mới, Pillow Talk mới được tiếp tục chiếu trở lại.

Phim chiếu tại Đại Nam có cả phim T*u (Đ*i Loan, Hồng Kông), nổi b*t nhất l* Mùa Thu Lá Bay với đôi trai t*i gái sắc Đặng Quang Vinh v* Chân Chân. Đó l* thời tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Giao, ăn khách không kém truyện võ hiệp hấp dẫn của Kinh Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Lục đỉnh ký

Xin nhắc lại, S*i Gòn xưa có tới 2 rạp xinê mang tên Rex. Nhiều người chỉ biết có rạp Rex ‘xịn’ ở đường Nguyễn Huệ, xế c*a Tòa Đô Chánh, bắt đầu khai trương năm 1962. Rạp Rex “cũ’ ở đường Nguyễn Công Trứ l* một rạp phụ của rạp xi-nê Majestic.

Phim chiếu ở rạp Majestic, năm hay bẩy tháng sau, th*m ch* cả năm sau, được mang ra chiếu lại ở rạp Rex cũ. Không kh* trong rạp hôi mùi… nước tiểu vì ngay c*a v*o rạp người ta thiết kế toilet. Cũng may, khoảng năm 1955 rạp Rex nhỏ n*y bị phá. Nơi đây được xây th*nh vũ trường Maxim tầng trên v* sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Ho*ng Thi Thơ phụ trách.

Năm 1962, trên đường Nguyễn Huệ xuất hiện rạp Rex ‘ho*nh tráng’. Đây l* rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi, chủ nhân rạp Ðại Nam ở đường Trần Hưng Đạo. Rex l* rạp ‘xịn’ nhất thủ đô S*i Gòn, sau n*y lại còn có thêm ‘người anh em’ Mini Rex. Khán giả v*o xem phim thuộc loại thanh lịch, giá vé luôn cao hơn các rạp khác.


Mini Rex được quảng cáo l*
‘Rạp chiếu bóng tối tân nhất Việt Nam’


Nếu tôi nhớ không lầm, rạp Rex hình như được khai trương với phim Ben Hur (Charton Heston). Có tin đồn trong ng*y khai trương một người đẹp đi lên thang cuốn không hiểu quýnh quáng thế n*o m* bị thang cuốn luôn cái quần… (may m* còn panty)! Không biết chuyện có th*t hay không nhưng cũng xin ghi lại l*m tư liệu về xi-nê v*… chiếc quần phụ nữ.

Gần rạp Rex l* rạp Eden nằm trong Passage Eden có lầu v* được phân chia th*nh từng lô, riêng biệt, rất k*n đáo cho khán giả l* những người đang yêu, vừa xem phim, vừa tâm tình mùi mẫm. Ở S*i Gòn, chỉ duy nhất rạp n*y mới có hai balcon. Thông thường, khi xem xi-nê tại đây, ngồi balcon 1 l* hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ v* không bị cái đầu của người ngồi h*ng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn v* vì quá cao nên nhìn sâu xuống m*n ảnh muốn cụp cái cổ nên phần đông khán giả chẳng m*ng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đ*o kép S*i Gòn ‘yêu nhau đi trời hôm tối rồi’ thì chiếu cố rất nhiệt liệt v* gọi đó l* 'pigeonnier' (chuồng bồ câu).

Đi xem xi-nê solo một mình m* phải lên balcon ngồi vì rạp hết chỗ thì… ‘tủi thân’ lắm. Trên ấy đ*o kép mùi mẫm, mê ly, nhất l* những cặp ngồi ở h*ng ghế chót, sau lưng l* nguyên bức tường, tha hồ tâm sự lòng thòng! Ca sĩ Pháp Dalida đã có lần xuất hiện tại rạp Eden ‘bằng xương bằng thịt’ khi cô đến S*i Gòn. Mấy năm sau đó, cũng tại rạp n*y, tôi được xem phim Parlez-Moi d'Amour (1961) cũng do Dalida đóng.

Ca sĩ Dalida nổi tiếng v*o th*p niên 60 với bản Bambino


Rạp Lê Lợi đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Th*nh, chuyên chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn to*n phim hay v* chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ng*y rồi đổi sang chiếu phim khác. Tuy nhiên, nếu hụt xem phim n*o thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế n*o phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Cái hay l* lịch chiếu phim được niêm yết trước để khán giả có thể chọn ng*y đi xem.

Rạp Lê Lợi có thể nói l* rạp duy nhất ở S*i Gòn chiếu phim theo phương thức n*y, một *t rạp khác có bắt chước phần n*o nhưng rồi cũng không theo được hoặc sau đó phải thay đổi cách l*m khác. Khách h*ng thường xuyên của rạp Lê Lợi l* những sinh viên, học sinh vì rạp chiếu phim cũ nhưng lại hay v* giá vé rất nhẹ. Thời đó, đi học ng*y hai buổi nên buổi chiều n*o chán hoặc lười học bọn trẻ, trai cũng như gái, rủ nhau 'cúp cua' đi xem xi- nê ở rạp n*y.

Cũng rất gần với rạp Lê Lợi trên đường Lê Thánh Tôn l* rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi, bên cạnh Bệnh viện S*i Gòn, ngay khu vực Chợ Bến Th*nh. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng trong giới ‘bê-đê’ vì đây l* nơi bạn có thể bị bất ngờ vì một b*n tay xờ xoạng của một ch*ng ‘gay’ ngồi ngay bên cạnh. Khoảng đầu th*p niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, may mắn gần Bệnh viện S*i Gòn nên các nạn nhân chỉ cần bước v*i bước được cấp cứu ngay!

Đối với tôi, có một kỷ niệm liên quan đến rạp Vĩnh Lợi nhưng không phải l* chuyện… đồng t*nh luyến ái. Hôm đó, tôi còn nhớ, Vĩnh Lợi chiếu phim Lady Hamilton (nếu tôi nhớ không lầm Michele Mercier đóng phim n*y). Đây l* phim cũ nhưng chưa xem nên vội mua vé v*o xem ngay. Đi xem phim trong giờ l*m việc nên còn mặc quân phục chỉnh tề. Xem phim xong vội quay về trường Sinh ngữ Quân đội, chi nhánh Nguyễn Văn Tráng, rất gần với rạp Vĩnh Lợi.

Về đến nơi mới biết l* trường vừa đón một Đại tá người Mỹ đến thăm các lớp học. Khách vừa lên đến tầng lầu tôi phụ trách thì có mùi hôi từ toilet xông ra. Thiếu tá Chỉ huy trưởng Huỳnh Vĩnh Lại (chứ không phải l* Huỳnh ‘Vĩnh Lợi’) mất mặt với khách, gi*n quá ông hỏi ai phụ trách tầng lầu, mọi người túa đi tìm tôi…

Cái giá phải trả cho buổi ‘nhảy dù’ đi xem phim Lady Hamilton tại rạp Vĩnh Lợi l* 4 ng*y trọng cấm ở ‘quân lao’ ngay trong Tổng tham mưu. Xe jeep đưa đến t*n nơi (chắc sợ để đi tự túc, ‘phạm nhân’ lỡ nổi hứng lại đi v*o xi-nê!) v* đúng ng*y về cũng có xe đến đón!

Khu vực chợ Thái Bình, có rất nhiều rạp chiếu phim. Rạp Quốc Thanh nằm trên đường Nguyễn Trãi, bên hông Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia. Rạp khá khang trang, sau trở th*nh sân khấu cải lương m* đo*n Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.

Rạp Khải Ho*n ngay góc Cống Quỳnh v* Phạm Ngũ Lão, thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh, ai v*o xem cũng cứ muốn… ‘yêu nhau cởi áo cho nhau’. Đây l* rạp tôi hay lui tới thường xuyên trong thời gian ở đường Cống Quỳnh.

Một kỷ niệm tôi vẫn nhớ mãi ở rạp Khải Ho*n l* nạn móc túi lúc chen v*o mua vé. Tôi cảm thấy có mấy ngón tay cứ muốn thọc v*o túi quần v* đã kịp thời ch*n lại. Có thể đó l* tay móc túi mới v*o nghề nhưng biết đâu lại l* một ‘gay’ lợi dụng lúc đông người thỏa mãn t*nh rờ rẫm người đồng phái?

Trên đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ Thái Bình, còn có rạp Thanh Bình, sau n*y s*a sang lại th*t lịch sự nhưng chẳng bao lâu sau S*i Gòn đổi chủ nên phải dẹp tiệm vì… ‘đứt phim’. Từ Cống Quỳnh tôi đi đường tắt, băng ngang qua chợ Thái Bình, chỉ mất v*i phút l* có thể chui v*o rạp Thanh Bình xem phim.

Thời gian đi từ nh* trên đường Cống Quỳnh đến Thanh Bình cũng ngắn như đến rạp Khải Ho*n. Sau n*y còn có rạp Thăng Long ngay trên đường Cống Quỳnh, chỉ cách nh* v*i căn, nhưng có lẽ ‘bụt nh* không thiêng’ nên tôi rất *t khi đến đây. Rạp Thăng Long khi đó còn quá tệ, không như nh* hát của trường Sân khấu Điện ảnh bây giờ (tiền thân của trường sân khấu ch*nh l* trường Hưng Đạo của Giáo sư toán Nguyễn Văn Phú ng*y n*o!).

Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ, m* khu Tân Định có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ l* Tân Định l* rạp Mô-Đẹc v* mặt trước của chợ l* rạp Kinh Th*nh. Hai rạp bình dân n*y thay phiên nhau chiếu phim Ấn Độ v* phim cao bồi. Để thay đổi không kh*, thỉnh thoảng lại mời các gánh cải lương hay Hồ Quảng về trình diễn, l*m nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông v*o những giờ sắp mở m*n hay vãn hát.

Nếu S*i Gòn có Casino Saigon thì Tân Định cũng có Casino Dakao. Tuy không nổi tiếng bằng người anh em b* con ở đường Pasteur nhưng rạp Casino Đa Kao trên đường Đinh Tiên Ho*ng tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả lại nhẹ nhẹ nh*ng v* địa điểm lại rất thu*n tiện vì nằm gần Cầu Bông. Cũng vì lý do đó, Casino Dakao sau n*y đổi tên l* rạp Cầu Bông.

Rạp Casino Saigon (ng*y nay l* Rạp Quang Vinh)
Ph*a bên phải có hẻm Casino phục vụ các món ăn… tuyệt cú mèo!

Lại nói thêm, ngay bên cạnh Casino (Saigon) có hẻn Casino nổi tiếng không kém gì rạp xi-nê Casino. Phim chiếu ở Casino có thể dở hoặc hay tùy theo sở th*ch của người xem nhưng có điều ghé v*o hẻm Casino người ta sẽ h*i lòng với các món ‘khoái khẩu’ mang hương vị đất Bắc.

Chủ nhân của các quán trong hẻm Casino đa số l* dân ‘Bắc kỳ di cư’ nên có những món ‘tuyệt cú mèo’ như bún chả, bún thang, bún riêu, bánh tôm v* dĩ nhiên l* phở… Các quán tại đây không thuộc loại sang nhưng giá tiền lại hơi đắt, có lẽ vì nằm ngay trung tâm S*i Gòn. T*i t*, giai nhân thường ‘chui’ v*o đây để thưởng thức những món ‘đặc sản’ phương Bắc!

Đường Cao Thắng có rạp nhỏ mang tên Đại Đồng, chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả th*t nhẹ nh*ng, địa điểm rất thu*n tiện. Hơn nữa, gần rạp n*y còn có nhiều quán ăn bình dân như bò viên, bò b*a nên khi tan xuất hát có thể ghé v*o đây kiếm món gì đó cho ấm bụng.

Xin nhắc các đấng m*y râu, hẻm Đại Đồng còn có khu ‘chị em ta’ nên có thể… một công đôi việc! Gần đó còn có rạp Việt Long cũng nằm trên đường Cao Thắng, sau n*y s*a sang lại khá khang trang, lịch sự.

Các rạp thuộc loại ‘xi-lố-cố’ nhiều như nấm mọc sau mưa trên đất S*i Gòn. Một danh sách xếp theo thứ tự alphabet có lẽ thể hiện được phần n*o sự phong phú của của các rạp xi-nê không nằm trong trung tâm S*i Gòn: Cao Đồng Hưng (B* Chiểu), Cầu Muối (Khánh Hội), Đại Lợi (Chợ Ông Tạ, Tân Bình), Đại Quang (Tổng Đốc Phương), H*o Huê, Ho*ng Cung, Hồng Liên, Lệ Thanh, Lido (những rạp n*y đều nằm trong Chợ Lớn), Oscar, Palace (Trần Hưng Đạo)…

Ôi, rạp xi-nê S*i Gòn xưa còn nhiều lắm. Chỉ nội việc kể tên cũng đã thấy mệt chứ nói gì đến t*n nơi để xem phim. Có lẽ không người S*i Gòn n*o dám tự h*o đã đến hết các rạp xi-nê trên đất phồn hoa đô hội n*y!


Hồi Ức Một Đời Người

Reply With Quote
  #2  
Old 03-05-2011, 02:53 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

Người đẹp S*i Gòn xưa: Chiếc Solex v* t* áo d*i

Xin mượn tạm danh hiệu ‘Người đẹp Bình Dương’ của nữ minh tinh một thời nổi tiếng, Thẩm Thúy Hằng, để đặt tên cho đoạn viết n*y về Người Đẹp S*i Gòn. Theo nh*n định có phần chủ quan của tôi, những người đẹp S*i Gòn v*o thời 60s có những nét đẹp m* các cô gái hiện đại ng*y nay không thể n*o sánh bằng. Hãy tưởng tượng một hình ảnh của những người đẹp S*i Gòn qua thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên:

Nắng S*i Gòn anh đi m* chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa H* Đông

Áo d*i may từ lụa H* Đông thướt tha, mềm mại. Đẹp nhất l* cảnh những cô gái mặc áo d*i đi trên chiếc xe Velo Solex, loại xe của Pháp có gắn động cơ ph*a trước. Tưởng cũng nên có đôi dòng về chiếc Solex của thời S*i Gòn những năm 1960. Đi Solex l* cả một nghệ thu*t, đòi hỏi sự khéo léo vì ph*a đầu xe rất nặng. Ấy thế m* những cô gái S*i Gòn vẫn tha thướt trên chiếc Solex trước những cặp mắt mê mẩn của cánh đ*n ông.


Người đẹp & Velo Solex


V*o những năm đầu th*p niên 60, hình ảnh những nữ sinh ngồi trên chiếc xe Solex đen bóng có lẽ vẫn luôn l* những ấn tượng không thể n*o quên của một thế hệ thanh niên thời đó. Solex cũng l* biểu hiện của sự sang trọng vì nữ sinh có xe solex thường thuộc con nh* khá giả. Nói chung, Solex l* sự duyên dáng, phô trương k*n đáo của người phụ nữ Việt Nam với chiếc áo d*i m* vạt sau được g*i trên yên xe, không che k*n được to*n vẹn.


Nữ sinh S*i Gòn với chiếc Velo Solex bên phải
v* chiếc Mobylette bên trái


Th*t gợi cảm khi hai chân cô nữ sinh khép nép đặt trên chỗ để chân nằm ch*nh giữa thân xe Solex. Dáng ngồi thẳng lưng, hai cánh tay duỗi d*i đến t*n guidon v* ph*a sau l* vạt áo d*i tung bay theo gió. Ngo*i giới nữ sinh trung học, hình như các giới nữ khác *t dùng đến loại xe gắn máy n*y.





Có điều lạ, cũng l* xe gắn máy, nhưng nhìn một cô gái ngồi trên chiếc Solex thấy rõ sự khác biệt với cô gái ngồi trên chiếc Mobylette. Hình như có đôi nét thanh tao, duyên dáng ở Solex m* ở Mobylette thì dứt khoát không có. Cũng vì lý do đó m* S*i Gòn thời ấy phụ nữ *t đi xe Mobylette.



Không cần nhìn mặt mũi, chẳng cần chiêm ngưỡng dung nhan của người ngồi trên xe. Chỉ cần nhìn thoáng qua hình ảnh người con gái mặc chiếc áo d*i m*u rêu đá, chiếc quần satin đen, bộ ngực căng phồng lướt gió v* mái tóc tung bay theo t* áo… cũng đủ cho những ch*ng trai si tình như tôi cảm thấy trái tim mình rung động.

Nếu người Nh*t có kimono, người H*n có hanbok thì chắc chắn người Việt Nam có áo d*i để hãnh diện. Từ th*p niên 1930, họa sĩ Cát Tường (còn có tên Tây l* Le Mur, bức tường!) ngo*i H* Nội đã thực hiện một cuộc cách tân quan trọng trên chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt, trước v* sau. Đó l* một bước cải tiến quan trọng của chiếc áo d*i ng*y nay với các kiểu cách phong phú trong việc chiết eo v* trong cả khoét cổ. Thôi thì đủ kiểu: cổ thuyền, cổ lá sen, cổ cao, cổ trái tim, phỏng theo áo đầm dạ hội của Pháp.

Sang đến th*p niên 1960, nh* may Dung ở Dakao đưa ra một kiểu may áo d*i mới với cách ráp tay ‘raglan’ để hóa giải những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách áo. Với cách ráp tay n*y, áo ôm s*t thân hình người mặc từ dưới nách đến eo v* chiếc áo d*i tăng thêm t*nh thẩm mỹ khi phô b*y những đường cong của phụ nữ.

Tiếp đến thời kỳ ‘mini-raglan’, với t* áo d*i rút ngắn lại giống như tr*o lưu mini-jupe của các cô gái S*i Gòn. Phiên bản n*y được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh, mang đ*m chất hồn nhiên v* ngổ ngáo của tuổi trẻ. T* áo được xẻ hơi cao ở hai bên, hở lườn t* x*u để vừa đủ… gợi cảm. Có người đã thi vị hóa đó l* ‘tam giác gợi cảm’ trên chiếc áo d*i Việt Nam v* người phương Tây khen l* ‘gợi cảm trong sự k*n đáo, trang nhã’.



T* áo d*i v* ‘tam giác gợi cảm’


Người ta kể lại câu chuyện một anh l*nh Mỹ bị mê hoặc bởi chiếc áo d*i Việt Nam nên cũng đặt may một chiếc rồi g*i về nh* cho vợ. Cô vợ cũng th*ch chiếc áo d*i nên mặc đi dự dạ hội rồi chụp ảnh g*i cho chồng. Anh chồng tá hỏa khi nhìn hình: vợ anh quá sexy trong chiếc áo d*i m* anh quên đặt may chiếc quần đi kèm với áo!

Chiếc quần để mặc với áo d*i cũng qua nhiều cải tiến, từ kiểu cẳng què qua đáy giữa, lưng từ to bản luồn giải rút đổi sang lưng nhỏ luồn dây thun rồi đổi g*i nút bấm, v* sau cùng l* khóa kéo kiểu Tây phương. Trong khi đó, ống quần cũng theo thời, theo mode: khi thì ‘chân voi’ lúc lại ‘ống túm’.

Người S*i Gòn vẫn còn nhớ b* cố vấn Ngô Ðình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, phu nhân b*o đệ cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Ng*y 6/12/1958, trong dịp khai mạc Triển lãm Nữ công tại Cô Nhi Viện Nữ vương Hòa Bình, b* Nhu xuất hiện với kiểu áo d*i không cổ (còn gọi l* décolleté), tay ngắn, tóc bới cao. Thế l* một số các b* các cô trong Hội Phụ nữ Liên đới đua nhau đi may áo d*i theo ‘kiểu b* Nhu’. Từ đó, các kiểu áo d*i c*ng phong phú với đủ các mốt, từ cổ thuyền, cổ vuông đến cổ tròn, cổ trái tim...



B* Ngô Đình Nhu v* con gái Lệ Thủy


Cuối th*p niên 60, nh* may Thanh Khánh ở Dakao đưa ra những mẫu h*ng thêu hoa lá c*nh để may áo d*i. Kế đến, tiệm Saigon Souvenirs khu Thương xá Tax S*i Gòn lăng xê những mẫu h*ng vừa vẽ vừa thêu trên lụa rất quý phái, lịch sự. Ba nh* may nổi tiếng tại S*i Gòn trước 75 hiện đã chạy ra nước ngo*i l*m ăn: nh* may Thanh Khánh mở tại Paris, nh* may Dung Dakao v* nh* may Thiết L*p Pasteur mở tại Mỹ.

Một đặc điểm *t người để ý đến l* mỗi chiếc áo d*i chỉ may riêng cho chủ nhân của nó v* phải trải qua giai đoạn th* áo để chỉnh s*a trước khi ho*n chỉnh. Mặc áo d*i của người khác thế n*o cũng lộ ra những chi tiết không ch*nh xác về ni tấc của vòng ngực, vòng eo. Áo d*i cũng kén người mặc. Ốm quá hay m*p quá khi mặc áo d*i đều ‘thất bại’ vì áo c*ng ôm c*ng… phản chủ!

Người đọc có lẽ cũng thắc mắc không hiểu tại sao tôi lại viết nhiều về áo d*i? Số l* tôi có thời gian ở nh* b* cô số 158 đường Cống Quỳnh (đường D’Arass), đối diện với trường Hưng Đạo của Giáo sư Nguyễn Văn Phú. Căn nh* n*y hồi đó treo bảng hiệu Đức Th*nh, chuyên s*a máy may, nhưng cũng l* nơi b* cô chuyên may áo d*i. Khách đến may đều l* khách quen, thuộc đủ mọi th*nh phần xã hội, nên ng*y một đông dù tiệm không chưng bảng hiệu! Chuyện ‘thâm cung b* s*’ của áo d*i cũng xuất phát từ đây.

Ngay từ thời thanh niên tôi đã có cái thú… lẽo đẽo theo các cô. Nhất l* những cô ăn mặc hợp với ‘gout’ của mình: áo d*i chiết eo l*m căng phồng bộ ngực hoặc chiếc mini jupe cao quá đầu gối để lộ cặp chân, cặp đùi nõn n* mời gọi. Cứ lẽo đẽo theo m* chẳng nói một lời, y như một ‘mối tình câm’! Nếu người đẹp dừng bước để ghé v*o đâu đó thì đ*nh ‘cắt đuôi’… rồi lại tiếp tục ‘săn lùng’ cô khác. Một cuộc săn lùng người đẹp của c*u trai mới lớn, không phải để tán tỉnh m* chỉ để nhìn ngắm cho thỏa con mắt.



Những t* áo d*i th*p niên 1960s

Tôi cũng khoái những phụ nữ tóc d*i, nhưng không phải l* mái tóc thề, m* l* tóc uốn lọn lớn, xỏa k*n bờ vai. Cho đến lúc n*y, tuổi đã gần 70 m* sở th*ch cũng vẫn không thay đổi (xin đừng gán cho tôi danh hiệu… ‘Yamaha’ m* tội nghiệp). Bắt gặp một mái tóc xỏa xuống bờ vai tôi có cảm giác như mình bị đắm chìm trong l*n suối tóc.

Chỉ đơn thuần một mái tóc đẹp nhìn từ ph*a sau lưng vì nếu nhìn rõ khuôn mặt có thể người ta sẽ bị… vỡ mộng. Biết bao lần tôi đã gặp cảm giác hụt hẫng đó v* cứ tự trách mình tại sao lại tham lam nhìn khuôn mặt để phải thất vọng.

Đối với tôi, mái tóc phụ nữ l* quan trọng hơn cả. Người ta thường nói ‘Cái răng, cái tóc l* góc con người’, nhưng với riêng tôi, chỉ mái tóc d*i thướt tha cũng đủ nói lên vẻ đẹp hấp dẫn của người phụ nữ chứ không cần h*m răng trắng ngọc.

Ng*y xưa, những tiệm uốn tóc của các Chú Ba (Tầu) – những hiệu mang tên như Chú Dzìn, Chú Coóng, th*m ch* cả tên Chú Lìn (!) – các b*, các cô năng lui tới để l*m đẹp. Hình như tên các chú c*ng xấu thì tay nghề lại c*ng cao? Không hiểu tại sao người Tầu lại có khiếu l*m tóc ngo*i năng khiếu lũng đoạn nền kinh tế bằng nghề như mở ch*nh gạo, l*m ‘đại lý độc quyền’ lương thực của cả miền Nam?

Hồi đó, trước c*a tiệm uốn tóc thường gắn một cái hộp tròn, d*i, bên trong l* những đường sọc đỏ trắng. Khi cắm điện, các sọc sẽ quay nhờ một moteur nên nhìn từ xa người ta biết ngay l* tiệm uốn tóc. Đến 1975, không hiểu tại sao những hộp đèn n*y lặng lẽ rút lui. Có lẽ vì sợ tốn điện?

Đến năm 2001, có dịp sang H*n Quốc tôi sững sờ khi gặp lại những hộp đèn tương tự của S*i Gòn ng*y n*o đang quay t*t giữ thủ đô Seoul. Tôi nghĩ, chắc hình thức hộp đèn n*y đã trở th*nh một thông lệ quốc tế nên khẳng định với người bạn H*n Quốc: “Chắc đây phải l* tiệm uốn tóc?”.

Anh bạn người xứ H*n khiến tôi ngạc nhiên qua câu trả lời: “Không phải, đây l* tiệm massage. Anh có muốn th* không?”. Trời đất! Từ hộp đèn của tiệm uốn tóc ở S*i Gòn sang đến xứ kim chi biến th*nh nơi cung cấp dịch vụ massage! Không thể n*o hiểu nổi!




Reply With Quote
  #3  
Old 03-05-2011, 02:55 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

Người đẹp S*i Gòn xưa: Từ mái tóc đến đôi guốc

Tôi rất dễ bị ‘hớp hồn’ vì những mái tóc d*i của phụ nữ. Điều n*y đồng nghĩa với việc tôi không thể d*nh cảm tình cho những mái tóc ngắn kiểu ‘demi garcon’ như trong b*i hát Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của Phạm Duy, phổ nhạc theo thơ Nguyễn Tất Nhiên:

N*y cô em Bắc Kỳ nho nhỏ
N*y cô em tóc Demi Garcon
Chiều hôm nay xuống đường đón gió
Cô có tình cờ
Nhìn thấy anh không?

N*y cô em Bắc Kỳ nho nhỏ
N*y cô em có nụ cười ngây thơ
Th*nh khi không quãng đường im gió
Không gió lấy gì lang thang?
Cô có thương thầm anh không?

Cô em Bắc Kỳ nho nhỏ thì được. Nhưng cô em tóc demi garcon lại không phải l* ‘gout’ của tôi. Một mái tóc ngắn l*m sao tạo cảm giác hấp dẫn mỗi khi vuốt ve. Đó l* chưa nói đến hình ảnh gợi cảm của một mái tóc d*i, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy quyến rũ hơn một cái đầu ngổ ngáo kiểu con trai. Biết đâu chừng, trong suốt cuộc đời chưa bị một người phụ nữ tóc ngắn kiểu ‘demi garcon’ n*o ‘hớp hồn’ cho nên tới giờ n*y chuẩn bị ‘xuống lỗ’ m* vẫn còn… chung thủy với cái ‘gout’ tóc d*i từ thời niên thiếu.

Có một dạo, khoảng th*p niên 60s, các cô gái S*i Gòn chuộng mốt buộc thêm cái bandaux lên mái tóc. Dẫu rằng bandaux có những tác dụng thiết thực như giữ cho tóc khỏi lòa xòa trước trán nhưng tôi không cho như thế l* đẹp. Bandaux, nếu l* m*u trắng trên trán, khiến cho người đối diện liên tưởng đến v*nh khăn tang v* như thế đâu còn nét quyến rũ của người phụ nữ trước cánh đ*n ông nữa. Thay v*o đó l* ý nghĩ tang tóc đáng sợ!


Hình chỉ mang t*nh cách minh họa


Tóc cột theo kiểu ‘đuôi g*’ (queu de cheval – người phương Tây gọi l* kiểu tóc đuôi ngựa) cũng l* một mốt của các cô thời đó, nhưng có điều chỉ th*ch hợp với những người còn trẻ trung. Ng*y còn m*i đũng quần trên băng ghế nh* trường, tôi rất mê kiểu tóc đuôi g* của một cô bạn cùng lớp. Cô rất đẹp, nhưng có cái tên rất xấu… Phan Thị Lụng. Tóc Lụng luôn luôn cột giây thung, túm lại như đuôi ngựa ở ph*a sau trông tựa như cô đ*o Sandra Dee trong phim Mirage de la vie nên tôi thầm phong tặng cho cô bạn cùng lớp biệt danh… Sandra Lụng!

Ở trong lớp, tôi lại ngồi ngay ph*a sau lưng Sandra cho nên lúc n*o cái đuôi ngựa cũng tung tăng trước mắt. Tôi mê tóc đuôi g* từ dạo ấy. Mê đến độ khi lớp l*m b*ch báo (báo tường), tôi viết một b*i thơ ca tụng mái tóc, anh ch*ng phụ trách trang tr* tờ báo còn vẽ một bức tranh minh họa cô nữ sinh có mái tóc giống y như Phan Thị Lụng. Chưa hết, b*i thơ được ký với bút hiệu Chung Linh… ghép bởi hai cái tên Ch*nh Lụng đọc lái!


Hình chỉ mang t*nh cách minh họa


Lụng phản đối kịch liệt tấm lòng si mê của tôi. Điều n*y cũng dễ hiểu. Khi còn ngồi ở ghế nh* trường, nam sinh v* nữ sinh tuy cùng độ tuổi nhưng lúc n*o các cô cũng coi bạn trai cùng lớp l* những kẻ ‘dưới cơ’, các cô chỉ để mắt đến những anh lớp trên…

Tôi vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Thấy trong Cours de Langue et de Civilisation Francaise của Mauger có mẫu một thiệp hồng báo hỷ, tôi chép lại nguyên văn, chỉ thay v*o đó tên cô dâu, chú rể l* Nguyễn Ngọc Ch*nh v* Phan Thị Lụng. Ho*n tất ‘công trình’, tôi để thiệp hồng lên yên xe đạp của Lụng.

Ng*y hôm sau, tôi bị thầy giám thị gọi lên văn phòng cảnh cáo trò đùa ‘dai’, nếu còn tái phạm sẽ phạt cấm túc, đồng thời thông báo về gia đình. Kể từ ng*y đó, vì sợ quá nên mái tóc đuôi g* biến hẳn trong đầu óc tôi. Mấy đứa bạn cùng lớp còn trêu:

Muốn người ta m* người ta không muốn,
Xách… thiệp hồng chạy xuống chạy lên!

Th*t không ngờ, mấy chục năm sau mái tóc đuôi g* lại xuất hiện trong đời tôi qua hình ảnh người tình. Dù chỉ l* sự xuất hiện thoáng qua nhưng cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Hôm đó l* một buổi trưa móng bức giữa S*i Gòn, n*ng s*a soạn đi dạy học v* bước ra đường với một mái tóc kẹp lệch sang một bên cho đỡ nóng. Một thoáng rùng mình. Tôi ngây ngất đứng nhìn n*ng bước ra khỏi nh* với mái tóc đuôi g*…

Mái tóc vén cao cũng l* một hình ảnh quyến rũ của người phụ nữ, nhất l* những người có vóc dáng quý phái, sang trọng. Tóc vén cao thường hợp với những l*n da trắng nuốt trên gáy, nổi b*t với v*i sợi tóc lòa xòa trên cổ. Đó l* hình ảnh của b* ‘cố vấn’ Ngô Đình Nhu v*o khoảng những năm 60s. Nói đến b* Nhu phải kể thêm kiểu áo d*i hở cổ, decolleté, l*m nổi b*t mái tóc vén cao của một mệnh phụ phu nhân.


B* cố vấn Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Thị Lệ Xuân


Đời tôi cũng đã từng có liên quan đến mái tóc vén cao của Ms Hoa, thư ký của bác sĩ Tôn Thất Niệm, trưởng Ty y tế v* Dân y viện Ban Mê Thuột. Hoa nhiều tuổi hơn tôi v* đã có 2 đứa con. Ch*nh Hoa l* người đã quyến rũ tôi khi bắt đầu bước v*o đời. Khi đó tôi còn l* một c*u trai ngờ nghệch l*m việc cho phái đo*n y tế Milphap, tăng cường cho Dân y viện BMT.

Mái tóc Hoa lúc n*o cũng vén cao một cách cẩn th*n v* khi đi l*m Hoa thường mặc những chiếc áo d*i hở cổ th*t hấp dẫn. Hằng ng*y, Hoa lái chiếc Peugeot 203 đến sở, trông như một mệnh phụ phu nhân. Thực ra, tôi chỉ chú ý đến Hoa nhưng không hề có ý định chinh phục v* cuối cùng thì người mạnh dạn tỏ tình lại l* Hoa.

Những gì Hoa để lại trong tôi l* mái tóc vén cao, chiếc áo d*i hở cổ v*… một vết loang trên áo chiếc áo d*i. Vết t*ch của một cuộc tình trên b*n l*m việc, ngay tại cơ quan, sau một bữa tiệc sinh nh*t. C*u trai mới lớn l*m tình một cách vụng về với người phụ nữ có mái tóc luôn vén cao! (Chuyện Phan Thị Lụng v* Nguyễn Thi Hoa được nói đến trong Chương 3: Thời Thanh Niên với nhiều tình tiết hơn)

***

V*o thời đại hiện tại, văn minh tiến bộ của khoa học kỹ thu*t giúp các b* các cô ‘duỗi tóc’ th*t thẳng hay nhuộm tóc đủ m*u v* th*m ch* còn hilight pha m*u từng cụm tóc trông như một palette technicolor của người họa sĩ chuẩn bị vẽ một bức tranh. Tôi quan niệm, cái đẹp phải xuất phát từ tự nhiên. Đẹp tức l* những gì tự bản thân mình có chứ không thể n*o vay mượn từ những cái mình không có (?).

Một người gốc châu Á thì l*m sao có được mái tóc bạch kim, tóc đỏ hay tóc v*ng? Tại sao ta lại gắn lên đầu những m*u tóc không phải của mình? Có lẽ đầu óc tôi thuộc loại ‘cổ hủ’ nên không thể n*o cảm nh*n được nét đẹp của những m*u tóc không phải l* đen trên thân thể một phụ nữ châu Á. Thiết nghĩ, mỗi chủng tộc có nét đẹp riêng của mình, lấy cái đẹp của người khác chủng tộc đem gắn v*o mình thì chẳng khác n*o ‘râu ông nọ cắm cằm b* kia’!

Tôi kỵ nhất khi phải đối diện với phụ nữ trên đầu chỉ to*n… ống cuốn tóc. Thường thì các ông chồng phải cam chịu ‘ng*m đắng nuốt cay’ với cảnh n*y. Các b* vợ muốn ra đường với một mái tóc đẹp nên rất chịu khó cuốn tóc khi còn ở trong nh* v* các ông chồng l* người chịu nhiều thiệt thòi nhất: phần xấu x* mình phải gánh chịu còn phần tốt đẹp thì thiên hạ được chiêm ngưỡng.


Hình chỉ mang t*nh cách minh họa


Tôi cũng l* nạn nhân của trường hợp n*y. N*ng có thói quen cuốn tóc bằng ống cuốn v*o ng*y Chủ Nh*t để đến Thứ Hai đi l*m sẽ có một mái tóc đẹp! Chỉ có mình tôi ‘lãnh đủ’ trong những ng*y Chủ Nh*t, luôn phải đương đầu với khoảng gần một chục ống cuốn trên đầu.

Các b* các cô thường quan niệm ở nh* thì sao cũng được nhưng khi ra đường thì bắt buộc phải tươm tất. M* loanh quanh trong nh* chỉ có các ông chồng, họ ‘lãnh đủ’ để đến khi ra ngo*i đường thì mọi người đều được chiêm ngưỡng sắc đẹp của vợ mình. Th*t bất công. Không lẽ một khi đã l* chồng hay người tình thì không còn đặc quyền chiêm ngưỡng những nét đẹp của vợ hay người yêu?

Ng*y xưa, các b* các cô đi guốc nhiều hơn đi giầy v* địa chỉ họ thường lui tới để tìm cho mình một đôi guốc vừa ý l* tiệm Guốc Dakao, vùng Tân Định. Guốc l* thời trang thịnh h*nh của những năm 1960. Thôi thì đủ kiểu: guốc cao, guốc thấp, guốc trung bình, lại còn có cả guốc sơn m*i, một tác phẩm hội họa để trưng b*y dưới đôi b*n chân ngọc.

Thân guốc bằng gỗ xoan được tạo hình ho*n to*n bằng phương pháp thủ công. Gỗ phải l* loại có *t nhất 5 hoặc 6 năm, trải qua các khâu ngâm, phơi, tẩm, sấy chống ‘chảy m*u’ mạch gỗ. Thời gian để ho*n th*nh đôi guốc mộc phải mất đến 2 hoặc 3 ng*y.


Hình chỉ mang t*nh cách minh họa


Quai guốc đóng một vai trò quan trọng: quai có thể l*m bằng da lộn, da th*t, giả da, simili, cũng có thể l* quai mặt đá, thêu hoa, đ*nh cườm… Đóng quai guốc cũng l* cả một nghệ thu*t, phải ướm cho vừa chân mới bắt đầu đóng bằng những chiếc đinh có mũ. Không *t các đấng m*y râu tình nguyện đóng quai guốc cho người yêu v* được thưởng bằng một nụ cười… nhất tiếu thiên kim.

Guốc cũng đi v*o thơ văn. Nh* thơ Đỗ Ch* Vinh trong b*i Mùa xuân v* chiếc guốc có những câu dưới đây viết về cảm xúc khi nghe nhịp guốc:

Ai xôn xao đầu ngõ
Ai nhịp gót rộn r*ng?
Xin cảm ơn đôi guốc
Yếu lòng người không mang!



Hình chỉ mang t*nh cách minh họa


Người Việt mình có câu ‘Đi guốc trong bụng’ nhưng nếu đó l* guốc cao gót thì chắc chắn kẻ bị biết tỏng lòng dạ vừa thấy cả nỗi đau tinh thần lẫn thể xác. Cũng vì thế guốc cao gót ch*nh l* vũ kh* phòng thân của phái liễu yếu đ*o tơ trong cơn nguy biến đồng thời cũng l* vũ kh* tấn công trong những cuộc đánh ghen với tình địch không đội trời chung.

Mái tóc chỉ l* một trong những nét đẹp của phụ nữ, người ta còn b*n đến vóc dáng, tướng đi, lời ăn tiếng nói v* cả đến đức hạnh của phụ nữ. Trong thơ văn, có cả một b*i thơ thuộc loại ‘ngũ ngôn tứ tuyệt’ để nói về những nét đặc biệt bên ngo*i của phụ nữ nhưng lại ẩn chứa những b* m*t thầm k*n bên trong. Thơ rằng:

Hồng diện đa dâm thủy
Mi trường hạ tố mao
Tiểu yên âm hộ đại
Trường túc bất tri lao

Bốn câu thơ chữ Hán đọc lên thấy vừa có vẻ nghiêm túc của ông đồ Nho nhưng đồng thời cũng thể hiện những ‘quý tướng’ k*n đáo của các b*, các cô. Điều lý thú l* b*i thơ ‘năm chữ, bốn câu’ bằng chữ Hán được diễn nôm th*nh thơ lục bát mang đầy mầu sắc của văn chương bình dân. Cứ một một câu năm chữ được chuyển ngữ th*nh 2 câu lục bát tả chân ho*n to*n Việt Nam (người viết cũng phải xin lỗi trước vì văn chương… quá dung tục):

Hồng diện đa dâm thủy:
Những cô má đỏ hồng hồng,
Nước l… tát mấy gầu sòng chưa vơi.

Mi trường hạ tố mao:
Những cô mắt phượng m*y ng*i,
Lông l… cũng đốt được v*i thúng tro.

Tiểu yên âm hộ đại:
Những cô đáy thắt tò vò,
Qua l… ta phải gọi đò sang sông.

Trường túc bất tri lao:
Những cô d*i cẳng chân dang,
Xếp h*ng cho đ… cả l*ng chịu thua.

Xin ngả nón bái phục nh* thơ n*o đó đã lột trần ý nghĩa của b*i thơ ngũ ngôn tứ tuyệt sang thơ lục bát rất… Việt Nam. Các cụ ta vẫn thường v* von, ‘nôm na l* cha mách qué’. Th*t quả kho t*ng văn chương bình dân của ta nói về ‘tướng dâm’ của người phụ nữ rất sâu xắc v* cũng rất chân chất.



Reply With Quote
  #4  
Old 03-05-2011, 02:57 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

S*i Gòn xưa: Từ những mẫu người đẹp đến cách l*m đẹp

Tại S*i Gòn, năm 1963, nh* văn Chu T* cho ra đời Yêu, một tác phẩm được người đọc tiếp nh*n nồng nhiệt (*). Sự th*nh công của Yêu một phần không nhỏ l* do công của các b*i phê bình trên nh*t báo v* tạp ch* S*i Gòn thời đó.

Theo bộc bạch của nh* văn: “Yêu l* một truyện m* không có cốt truyện, không có nhân v*t, “tung hê” tất cả những qui lu*t cổ điển về lề lối xây dựng một tiểu thuyết, để cho truyện thoát khỏi mọi gò bó, giả tạo…”.

Dưới đây l* chân dung của 4 người đẹp – Uyển, Diễm, Huyền, Tuyết – qua cái nhìn của Chu T*:

Bốn cô đều đẹp, mỗi đứa đẹp một vẻ riêng biệt, cũng như t*nh nết họ, chẳng đứa n*o giống đứa n*o… Uyển hai mươi hai tuổi, đẹp dữ dội, lồ lộ, khêu gợi… Diễm hai mươi tuổi, đẹp k*n đáo, mơ m*ng, đầy sức quyến rũ ngấm ngầm. Huyền mười tám tuổi, đẹp kỳ lạ, vì đôi mắt n*ng hơi lác (lé). Phải nhìn kỹ, mới nh*n ra đôi mắt n*ng lác, nhưng đã nhìn kỹ thì không tránh khỏi bị đôi mắt của Huyền thôi miên. Lạ nhất l* gương mặt Huyền không giống cha, không giống mẹ, không giống các chị em, v* đôi mắt Huyền ngay từ lúc mới đẻ đã mang một b* m*t m* ch*nh Huyền không biết, cho nên Huyền không những *t nói, m* còn hay buồn, th*ch đi tu… trái hẳn với cô gái út l* Tuyết mười sáu tuổi, đẹp một cách Tây Phương, ngổ ngáo, ranh mãnh”.


Nh* văn Chu T*


Tôi nhìn thấy 4 kiều nữ trong Yêu ch*nh l* điển hình của những mẫu người đẹp S*i Gòn th*p niên 1960. Cả nhân v*t đứng tuổi như b* Hằng, người đã “ủng hộ” anh dân quân du k*ch khi anh vô tình thổ lộ “thèm quá, ủng hộ một t*…”. Ng*y đó, cô Hằng nhắm mắt ‘chiều’ anh bộ đội với một suy nghĩ đơn giản l* mình đã ‘…giúp một tay cho kháng chiến th*nh công…’ cũng l* một logic trong cái ‘vô lý’ của Yêu! Đó cũng l* điển hình chân dung người phụ nữ vốn có những lúc phức tạp đến độ khó hiểu nhưng có khi lại ngây thơ, đơn giản đến độ vô lý như b* Hằng của thời kháng chiến!

Đọc Kỹ nghệ lấy Tây (1934) của ‘ông vua phóng sự’ Vũ Trọng Phụng (**) người ta lại khám phá cả một xã hội của những người phụ nữ Việt Nam được mệnh danh l* ‘Me Tây’ v*o thời kỳ 1930-1940 tại l*ng Cổ Mễ, Thị Cầu gần H* Nội. Phần đông họ l* những phụ nữ chân quê v* vì một lý do n*o đó ‘lạc bước’ v*o giới Me Tây để trở th*nh những nhân v*t như B* Cai Bu-D*ch, B* Cẩm, B* Kiểm Lâm…

Ngôn ngữ Me Tây th*t phong phú: “Toa ba mỏ nhá cút xê ăng co xê moi! Toa k*ch tê moa săng bảy dề, a lò phi nì phăm, phi nì ma ghi! A lò, k*ch!” (M*y không có quyền về ngủ nh* n*y nữa. M*y bỏ tao đi m* không trả tiền, thế l* hết vợ, hết chồng. Thế thì… đi, đi!).



Sang đến S*i Gòn cuối th*p niên 1960, khi quân đội cờ hoa có mặt tại Việt Nam, lại xuất hiện Me Mỹ. Họ có thể l* những cô gái quê nhưng cũng có thể l* gái th*nh thị, v* vì ho*n cảnh gia đình nên đã chọn con đường phục vụ trong các quán bar để mưu sinh. Thời đó họ được gọi l* Saigon Tea Girl như trong b*i Wabash Cannonball do Jerry Campbell v* Ed "Pappy" Hufft đã đổi lời th*nh Saigon Tea:

Well I came down to old Saigon
To have myself a spree
I took a little walk down Tu Do Street
To see what I could see

The day was hot and I was dry
So I thought I'd have a drink
As I sat down, a coe [cô???] walked up
And gave me a little wink.

She was the pearl of the Orient
An almond-eyed little cat
But Saigon tea costs two hundred "P" [piaster]
And I'm sorry about that.

She said, "You number one G.I.
You buy me Saigon tea?"
I said, "No thanks, that stuff's no good
And it costs too much for me."

She said, "You number ten G.I.
I don't love you any more."
And then she spoke some more choice words,
As she walked out the door.


Những cô gái Saigon Tea cũng l* một phần chứng nhân lịch s* của S*i Gòn thời chiến cho dù background của họ rất khiêm tốn giữa bối cảnh đất nước nhiễu nhương. Vốn liếng tiếng Anh của họ chỉ vỏn vẹn những câu broken English như number one, number ten, OK salem, no star where, papa san, mama san… nhưng đó cũng l* những dấu t*ch của một giai đoạn lịch s* m* S*i Gòn đã trải qua.


Cô gái Saigon Tea


***

Phương Tây có quan niệm rất thực dụng về nhan sắc của phụ nữ. Họ cho rằng sắc đẹp l* tặng phẩm đầu tiên của tạo hóa d*nh cho phụ nữ nhưng đó cũng l* món qu* đầu tiên tạo hóa lấy đi theo thời gian.

Nói như v*y có nghĩa nhan sắc sẽ t*n theo tuổi tác. Không một phụ nữ n*o có thể n*u kéo nhan sắc ở lại với mình cho đến ng*y tóc bạc, da mồi. Thế nhưng, cũng có ý kiến cho rằng “không có phụ nữ xấu x*, chỉ có những phụ nữ không biết cách l*m cho mình đẹp”.

Bằng chứng l* ng*y xưa những người đẹp S*i Gòn cũng tìm được một lối thoát để kéo d*i v* giữ gìn nhan sắc: họ nhờ đến giải phẫu thẩm mỹ. Bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ đã có mặt tại S*i Gòn từ rất sớm vì nghề Cosmetic Surgery hái ra tiền.

Họ dùng đủ mọi thủ thu*t để l*m đẹp v* duy trì nét đẹp cho phụ nữ. Từ những tiểu phẫu như căng da mặt, xâm lông m*y, chẻ môi, s*a mũi đến đại phẫu như nâng ngực, bơm mông, lấy bớt chất mỡ trên bụng, th*m ch* còn ‘nong ra’ hoặc ‘thu nhỏ’ luôn cả âm hộ l* nơi vốn k*n đáo nhất của các b* các cô.


L*m đẹp nhờ Cosmetic Surgery


Nghe nói các ông chồng trong cộng đồng người Việt ở nước ngo*i ng*y nay cũng l* nạn nhân của việc l*m đẹp. Các b*, các cô đua đòi đi thẩm mỹ viện, th*m ch* khi về Việt Nam cũng nhân tiện ‘quá giang’ l*m đẹp vì giá cả ở đây rẻ hơn nhiều nếu so với xứ cờ hoa hay xứ kangaroo.

Chỉ có cánh đ*n ông l* thiệt thòi. Họ l*m lụng vất vả để kiếm tiền cho vợ đi s*a sắc đẹp. Khi đến thẩm mỹ viện, các b* thường mang mục đ*ch cao cả l* l*m đẹp cho chồng nhưng có đến 90% đ*n ông có vợ đi s*a sắc đẹp, trong t*n cùng đáy lòng, đều không ủng hộ quyết định n*y.

Họ để vợ đến thẩm mỹ viện chỉ vì ‘cả nể’… Cũng vì đức t*nh n*y, Honore de Balzac mới nói: “Người đ*n ông n*o có thể điều khiển được phụ nữ thì cũng có thể điều khiển được một quốc gia”. Thế nhưng, vấn đề l* mỗi nước chỉ có một người đứng đầu còn lại bao nhiêu đều l*… phó thường dân!

Người ta thường chống h*ng ‘gian’, h*ng ‘giả’. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ đối với các mặt h*ng được gọi l* ‘tiêu cực’ n*y. Đó l* những h*ng giả m* người s* dụng không bao giờ chống m* lại còn ủng hộ hết mình: chân tay giả được những người cụt tay, cụt chân hoan nghênh, răng giả dùng cho những người ‘hăng-rết’ (hết răng)… Khi tuổi đã xế bóng, các ông các b* có khi phải dùng h*m răng giả, tối tối đánh răng m* miệng vẫn huýt sáo một cách yêu đời.

Riêng đối với phụ nữ, các b* các cô ủng hộ hết mình những ‘mặt h*ng’ như lông mi giả, tóc giả. Ngo*i ra, nếu ‘vòng số 1’ hơi khiêm tốn thì có áo nịt ngực bên trong độn mousse cho thêm phần khiêu gợi, ‘vòng số 3’ nhỏ quá thì có mông giả tăng cường để ‘bằng chị, bằng em’ khi ra đường.

Người ta nói, muốn kiểm chứng ‘mông th*t, mông giả’ rất dễ: cứ cầm cây kim lén ch*ch v*o mông một kiều nữ. Hồi xưa người ta đồn mông của Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng l* giả (!!!???).


Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng (1972)


Cho đến giờ phút n*y chưa có một t*i liệu n*o chứng minh Thẩm Thúy Hằng có x*i đồ giả hay không. Tôi còn nhớ, hồi xưa có lần một cây bút n*o đó v* cái đầu của ký giả Tô Văn giống như… mông của Thẩm Thúy Hằng (?).

Vĩnh viễn chuyện cặp mông của cô diễn viên n*y sẽ l* một b* m*t, chỉ có Thẩm Thúy Hằng v* chồng cô, Tiến sĩ Harvard, Tony Nguyễn Xuân Oánh, mới biết đ*ch xác. M* ông Oánh thì nay đã l* người thiên cổ… (Chuyện ông Tony Oánh sẽ còn được nhắc đến trong Chương 8: Thời Mở C*a)

Kiểm chứng mông th*t hay giả bằng kim ch*ch như nói ở trên sẽ có hai trường hợp xảy ra: hoặc bạn ăn một cái tát mên thân hoặc người đẹp vẫn cười th*t tươi với bạn!

Nói đùa v*y thôi chứ đừng ai dại dột l*m chuyện n*y. Giả hay th*t l* chuyện của phụ nữ, cánh đ*n ông chỉ biết chiêm ngưỡng người đẹp. Đơn giản thế thôi!

Reply With Quote
  #5  
Old 03-05-2011, 03:35 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

Điện ảnh S*i Gòn

S*i Gòn v*o những th*p niên 50s, 60s v* đầu th*p niên 70s đa số phim nước ngo*i nh*p v*o Việt Nam đều chiếu ở Pháp rồi mới sang Việt Nam. Đó cũng l* lý do tại sao phim Mỹ lại nói tiếng Pháp hoặc phim nói tiếng Mỹ v* có phụ đề (sous-titre) tiếng Pháp. Tên phim thì đa số bằng tiếng Pháp, dù l* phim Mỹ. Phần đông các phim, dù của Pháp hay của Mỹ, đều có phụ đề Việt ngữ để khán giả có thể theo dõi. Ngo*i ra, một số phim nói tiếng Pháp lại có phụ đề cả ba thứ tiếng Việt-Hoa-Anh…

Nói đến chuyện phụ đề Việt ngữ, tôi xin ghi lại một chuyện khá tức cười. Trong một phim tôi không nhớ tên, có cảnh người nữ diễn viên bồng đứa con còn ẵm ng*a v* bên dưới có phụ đề: “Để em bỏ con vô nồi”. Khán giả cười ồ, dù cảnh trên m*n ảnh không có gì để cười. Hóa ra những người l*m phụ đề sơ xuất trong việc bỏ dấu: chữ ‘nôi’ bị biến th*nh ‘nồi’ thay vì “Để em bỏ con vô nôi”!

Theo tôi, phụ đề Việt ngữ l* cách hay nhất giúp khán giả tiếp c*n với tình tiết trong phim. Tuy nhiên, có nhiều phim vì diễn viên nói vừa nhanh vừa d*i nên phụ đề cũng phải chạy chữ cho kịp khiến khán giả đọc ‘hụt hơi’, chưa hết câu n*y đã xuất hiện câu khác. Khổ nhất l* những người đọc ch*m theo kiểu… ‘bình dân học vụ’.

Sau 1975, dòng phim cách mạng miền Bắc không thấy xuất hiện ‘phụ đề Việt ngữ’, thay v*o đó l* lối ‘thuyết minh’. Cứ mỗi buổi chiếu, có một nhân viên ngồi trong rạp đọc bản script bằng tiếng Việt nên mới gọi l* ‘thuyết minh’. Nhiều khi ‘thuyết minh viên’ vì tay nghề kém nên cứ đọc trước hoặc đọc sau cảnh trong phim khiến khán giả nhiều lúc chẳng hiểu phim nói gì.

Tôi cũng đã có một thời kỳ nh*n dịch phim cho Fafilm Saigon sau 1975. Phim nói tiếng Anh được Fafilm sao lại qua băng Video v* giao cho người dịch. Nh*n dịch phim có nghĩa l* phải nghe hết những đối thoại trong phim rồi viết lại bằng tiếng Việt để người thuyết minh đọc khi phim được trình chiếu.


Quảng cáo xi-nê trên báo ng*y trước

Gặp những phim thuộc loại ‘*t nói’ như phim chiến tranh, phim h*nh động đấm đá thì công việc dịch phim tương đối dễ d*ng. Ngược lại, những phim thuộc loại tình cảm ướt át, triết lý lòng thòng, người dịch phim cứ phải nghe đi nghe lại mới nắm hết ý nên tốn rất nhiều thì giờ.

Nếu may mắn, phim gốc có kèm original script, người dịch chỉ nhìn phần đối thoại trong bản tiếng Anh v* cứ thế dịch ra tiếng Việt, khỏi cần xem phim cũng xong. Tuy nhiên, những trường hợp ‘ngon ăn’ *t khi n*o đến tay mình. Fafilm để d*nh cho ‘bồ tèo’ v* những người thân thiết, còn lâu mới đến lượt ‘con b* phước’!

Khi viết thuyết minh còn phải có những lời dẫn để trong ngoặc d*nh riêng cho người thuyết minh đọc đúng đoạn, đúng cảnh. Ở đây người ta thấy ngay trình độ khán giả xem phim . Thuyết minh d*nh cho loại khán giả ‘có trình độ văn hóa thấp’, chỉ cần nghe không cần đọc trong khi phụ đề đòi hỏi trình độ ở mức cao hơn để đọc chữ trên m*n ảnh. Như v*y, hình th*nh 2 trình độ thưởng thức phim: Văn hóa đọc v* Văn hóa nghe…!

Ngo*i phụ đề Việt ngữ, xi-nê S*i Gòn xưa còn dùng hình thức chuyển âm, ngôn ngữ ng*y nay gọi l* ‘lồng tiếng’. Chuyển âm thường áp dụng cho những phim bình dân như loại phim ca-vũ-nhạc của Ấn Độ, sản xuất từ Bollywood.

Sang đến thời của video với các bộ phim của TVB Hồng Kông được cả một ê-k*p chuyển âm người ta mới thấy công việc khó nhọc của diễn viên lồng tiếng như thế n*o nhưng khi trình chiếu trên m*n ảnh tên tuổi của các diễn viên chỉ xuất hiện khoảng… 10 giây! Nổi tiếng trong loại phim được chuyển âm phải kể đến Tú Trinh với t*i diễn xuất điệu nghệ từ tiếng cười, tiếng khóc cho đến những đoạn đối thoại đòi hỏi những đối thoại xuất phát từ nội tâm.

***

Một trong những phim tôi ‘mê’ nhất l* Vertigo với các t*i t* Kim Novak, James Stewart. Đạo diễn Alfred Hitchcock l*m phim Vertigo theo tiểu thuyết D’Entre les Morts của tiểu thuyết gia Pháp Boileau-Narcezac, hai ông viết chung, một ông tên l* Boileau, ông kia tên l* Narcezac. Nh* văn Ho*ng Hải Thủy đã dựa theo tiểu thuyết D’Entre les Morts để phóng tác th*nh truyện “Giữa những người đã chết.”


Poster phim Vertigo


Vertigo l* loại phim ‘toát-mồ-hôi-lạnh’ được Hitchcock thực hiện từ năm 1958 với những cảnh hồi hộp đứng tim. Chuyện xoay quanh chứng ‘sợ độ cao’ (acrophobia), có những cảnh người rớt từ cao ốc, người tự t* từ cầu Golden Gate v* từ tháp chuông nh* thờ… Vertigo thuộc loại trinh thám, hấp dẫn khán giả từ đầu mối n*y đến tình tiết khác, lúc thắt lúc mở dưới t*i đạo diễn của Hitchcock.

Hồi đó, S*i Gòn chiếu rất nhiều phim Hitchcock cho nên giới ghiền xi nê gọi chung những phim kinh dị l* ‘phim Hitchcock’ dù phim không thực sự do Hitchcock đạo diễn. Trong ngôn ngữ S*i Gòn, người ta còn dùng từ ‘h*t-cốc’ để diễn tả sự căng thẳng, quái đản hay nhuộm m*u sắc trinh thám.

Sir Alfred Joseph Hitchcock l* đạo diễn tiên phong trong nghệ thu*t l*m phim tâm lý - tình cảm - kinh dị. Ông khởi nghiệp từ thời l*m phim câm tại Anh nhưng giai đoạn th*nh công nhất l* kể từ khi ông chuyển đến Hollywood năm 1956. Hitchcock đạo diễn hơn 50 bộ phim trong suốt sự nghiệp kéo d*i đến 6 th*p kỷ. Ông thường được coi l* nh* l*m phim số 1 của mọi thời đại với thể loại phim đen trắng kinh dị. Những phim nổi b*t của ông phải kể đến The Man Who Knew Too Much (1956) với James Stewart v* Doris Day (trong phin n*y Doris Day hát b*i What Will Be, Will Be – Que Sera, Sera v* đoạt giải Oscar âm nhạc hay nhất).

Các bộ phim North by Northwest (1959) với Cary Grant v* Eve Marie Saint, Psycho (1960) với Anthony Perkins v* Janet Leigh, v* The Birds (1963) với Tippi Hedren v* Rod Taylor cũng được coi l* những th*nh công của Hitchcock. Sau khi l*m phim Psycho với Universal, Hitchcock trụ lại với hãng phim n*y cho đến khi về hưu. Th*t may mắn, năm 1971, tôi đã chụp được hình ảnh ngôi nh* trong phim Psycho vẫn còn được lưu giữ tại phim trường Universal ở tiểu bang California.



Ngôi nh* trong phim Psycho vẫn còn được giữ lại tại phim trường Universal
(Ảnh tác giả chụp năm 1971)


Có một loại phim cũng rất ăn khách với những m*n nổ súng, ‘bắn ch*m thì chết’. Người S*i Gòn gọi nôm na l* ‘phim cao-bồi’ (cowboy), ‘phim miền Tây’ (Western Movies) với những cảnh cưỡi ngựa, bắn súng lồng trong cốt truyện ‘thiện thắng ác’, ‘anh hùng thắng gian ác’ hoặc ‘da trắng thắng da đỏ’. Người hùng trong những phim n*y phải kể đến Gary Cooper, John Wayne, Clint Eastwood… trong những bộ phim miền Tây nổi tiếng như Gunfire at OK Coral v* The magnificient seven (Les sept mercenaires).

S*i Gòn đã chiếu quá nhiều phim hay có t*nh cách kinh điển. Theo tôi, những phim dưới đây được xếp v*o hạng ‘kiệt tác’ đối với dân ghiền xi-nê thời đó:

Casablanca: phim tình cảm với một mối tình đẹp giữa Rick (Humphrey Bogart) v* Isla (Ingrid Bergman) trong những thời khắc của định mệnh v* chiến tranh.

Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) với n*ng Scarlet trong bối cảnh nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã l*m thổn thức bao trái tim vì cuộc tình lãng mạn qua diễn xuất của các t*i t* nổi danh Vivian Leigh, Clark Gable.


Roman Holyday (Vacance Romaine - Nghỉ Hè La Mã), n*ng công nương Audrey Hepburn v* một phóng viên do số ph*n run rủi đã có những thời khắc đẹp bên nhau. Cảnh thơ mộng nhất phải kể đến cặp tình nhân chở nhau trên chiếc Vespa đi khắp Florence. Sau n*y, có dịp đi Ý, tôi đã đến những nơi đã quay ngoại cảnh của cuốn phim. Th*t tuyệt vời!

Bác sĩ Zhivago mang chủ đề tình yêu mạnh mẽ v* thơ mộng trong những tháng ng*y tuyệt vọng của cuộc sống tại Nga, mang dáng dấp b*ng bạc của thời điêu linh sau 1975 tại Việt Nam. Đây l* tác phẩm văn học của Boris Pasternak, Giải Nobel Văn Chương với các diễn viên Omar Sharif v* Julie Christie. Ch*nh quyền Nga gần đây đã cho phép xuất bản to*n bộ các tác phẩm của ông sau khi đã bị cấm đoán suốt thời kỳ Liên Bang Xô Viết.

City Lights (Ánh đèn đô thị) l* một phim câm mang t*nh kinh điển của thời Charlie Chaplin với vai diễn độc đáo Charlot, một gã lang thang yêu một cô gái bán hoa bị mù hai mắt. Tình yêu khiến anh mạnh mẽ trong cuộc chiến vượt lên sự bần cùng. Phim câm, cười m* rơi lệ!

Love Story (Chuyện tình), phim đã đưa Ali McGraw v* Ryan O’ Neal lên h*ng các ngôi sao, đồng thời đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện sinh.

***

S*i Gòn trước 1975 chiếu nhiều loại phim v* mỗi t*i t* nổi tiếng đều có những fans hâm mộ riêng. Theo tôi, nổi nhất v* có nhiều người hâm mộ nhất l* cô đ*o sexy BB. Nữ minh tinh người Pháp, Brigitte Bardot, sinh ng*y 28/9/1934, nổi tiếng từ năm 1956 qua phin Et Dieu Créa La Femme (And God Created Woman) do Roger Vadim đứng ra đạo diễn v* ch*nh ông l* chồng của BB. Đạo diễn n*y chắc t* vi có số đ*o hoa, về sau ông còn kết hôn với người đẹp Jane Fonda, con gái rượu của Henry Fonda.


Brigitte Bardot


Trong suốt cuộc hôn nhân với BB (1953-1957) ông đã biến người phụ nữ trẻ con (child-woman) th*nh một hình tượng quyến rũ của phái đẹp. Những phim tiếp theo như Babette s'en va-t-en guerre (1959), La Verité (1960) đã được trình chiếu tại các rạp xi-nê S*i Gòn v* lúc n*o cũng đông nghẹt người đến để xem cô đ*o sexy, tóc v*ng, ‘môi cong tớn’.

Không biết tôi có dùng đúng chữ để diễn tả cặp môi BB? Cặp môi đó lúc n*o cũng chờ đợi, mời gọi những cái hôn v* ch*nh cặp môi đó sau n*y trên Đ* Lạt có một loại hoa hồng mang tên Brigitte Bardot.

Đã có không *t cô gái Việt v*o các th*p niên 50-60 lấy BB l*m khuôn mẫu. Theo tôi, không thể n*o có một cặp môi thứ hai, không ai có thể bắt chước được BB với cặp môi… thiên phú! BB cũng l* thần tượng của giới học sinh v* sinh viên với mái tóc d*i buông lơi đến quá lưng rất quyến rũ. Tóc BB lại đánh rối ph*a trước nên nhiều nữ sinh hồi đó cũng bắt chước kiểu tóc n*y khiến trường Trưng Vương phải tung ra chiến dịch chấn chỉnh: nữ sinh n*o tóc đánh rối quá cao đều được các b* giám thị đưa v*o văn phòng, bắt gỡ tóc v* chải lại!

Quả Bom Sex’ thứ hai l* Sophia Loren, cũng sinh năm 1934 như BB, nhưng lại l* cô gái Ý, sống cuộc đời nghèo khổ tại Naples. V* cũng như BB, cô lấy ông chồng l*m đạo diễn, Carlo Ponti, năm 1957.


Sophia Loren


Qua hai trường hợp của BB v* Sophia Loren, người ta thấy ngay các kiều nữ đều có t*nh toán đâu ra đó. Lấy chồng đạo diễn – dù gi*, dù xấu trai – nhưng sẽ bảo đảm một con đường vinh quang nghệ thu*t?

Những phim hay nhất của Sophia Loren phải kể đến The Pride and the Passion (1957, đóng chung với Frank Sinatra), It Started in Naples (1960, với Clark Gable) v* El Cid (1961, với Charlton Heston). Năm 1961, Sophia Loren đoạt giải Oscar qua phim La Ciociara (Two Women) đến khi về gi* vẫn còn nh*n một giải Oscar v*o năm 1991.

Kiều nữ thứ ba được dân ghiền xi-nê ái mộ l* Gina Lollobrigida. Phim hay nhất l*m tôi mê mẩn l* Anh gù Nh* thờ Đức B* (Notre Dame de Paris) năm 1956 với Gina trong vai người đẹp Esmeralda v* Anthony Quinn trong vai anh gù Quasimodo theo truyện của Victor Hugo. Đoạn kết th*t cảm động với cảnh chiếu bộ xương của anh gù v* người đẹp trong tư thế ôm nhau khi m*n ảnh mờ dần…


Poster phim ‘Anh gù Nh* thời Đức B*’
Gina Lollobrigida & Anthony Quinn

Đây cũng l* phim m*u đầu tiên dựa theo tiểu thuyết v* sau n*y tôi mới biết nguyên bản của phim chỉ có 2 nhân v*t ch*nh nói tiếng Anh còn những diễn viên người Pháp đều được lồng tiếng Anh. Trong khi đó tại S*i Gòn dù xem phim Mỹ vẫn nghe tiếng Pháp. Th*t tréo cẳng ngỗng giữa 3 ngôn ngữ Anh-Pháp-Việt trong thị trường điện ảnh tại S*i Gòn.

Cũng như Sophia, Gina l* người Ý nhưng cô lớn hơn BB v* Sophia đến 7 tuổi v* xuất hiện trong ho*n cảnh thế giới còn đang ngổn ngang những đổ nát từ cuộc đại chiến lần thứ nhì. Năm 1947, Gina tham dự cuộc thi hoa h*u Ý v* với nhan sắc mặn m* của một cô gái 20 tuổi, Gina đoạt giải ba.

Gina có biệt hiệu Người đ*n b* đẹp nhất thế giới qua bộ phim do Ý sản xuất, La Donna Piu Bella del Mondo, năm 1955. Cô đã từng diễn xuất bên cạnh những t*i t* nổi danh một thời như Humphrey Bogart (trong phim Beat the Devil), Yul Brynner (Solomon and Sheba), Burt Lancaster (Trapeze), Frank Sinatra (Never So Few)… Năm 1961, Gina xuất hiện trong Come September với Rock Hudson v* đoạt Giải Cầu V*ng (Golden Globe) qua bộ phim n*y.

Cuộc đời tình ái của Gina cũng sôi nổi không kém cuộc đời nghệ thu*t. V*o năm 2006, khi đó Gina đã 79 tuổi, b* tuyên bố sẽ kết hôn với một doanh nhân người Tây Ban Nha, Javier Rigau. Ch*ng Javier khi đó mới tròn 45! Họ tiết lộ đã hẹn hò với nhau từ năm… 1984 khi gặp nhau tại Monte Carlo. Cuối cùng, cuộc hôn nhân bất th*nh vì sức ép của dư lu*n v* báo ch*!

***

Sẽ không công bằng khi bỏ qua các minh tinh miền Nam một thời vang bóng như Kim Cương (trong phim Lòng nhân đạo, Ngọc bồ đề), Trang Thiên Kim (Mục liên thanh đề, Trương Chi…), Mai Trâm (Chúng tôi Muốn Sống), Khánh Ngọc (R*ng buộc, Ánh sáng miền nam…).

Một trong những phim th*nh công nhất về mặt doanh thu phải kể đến Quan Âm Thị K*nh. Năm 1957 l* năm điện ảnh hoạt động mạnh mẽ nhất tại miền Nam, chỉ riêng trong năm n*y, các hãng phim tư nhân đã sản xuất gần 40 phim. Một số hãng phim đã xuất hiện với các tên như Tân Việt, Việt Thanh, Mỹ Vân, Văn Thế, Trường Sơn, Đông Phương, Liên Hiệp, Viễn Đông, An Pha, Hương Bình…

Cuối năm 1957, hãng Mỹ Vân tung ra bộ phim Người đẹp Bình Dương được trình chiếu v*o dịp Noel v* năm mới 1958 với một chiếc lược quảng cáo rầm rộ. Bộ phim đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo khán giả v* đồng thời giới thiệu một gương mặt mới của nền điện ảnh miền Nam: Thẩm Thúy Hằng.

Tên th*t của Thẩm Thúy Hằng l* Nguyễn Kim Phụng, sinh năm 1941, nguyên quán bố mẹ gốc Hải Phòng, v* lớn lên tại An Giang. V*o một ng*y gần như l* định mệnh, Phụng được thấy một trang báo có đăng quảng cáo cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh của hãng phim Mỹ Vân. Dấu cha mẹ, cô nữ sinh Phụng, khi đó mới 16 tuổi, học lớp Đệ Tứ, ghi tên dự tuyển.

Giữa muôn ng*n đóa hoa hương sắc, với những gương mặt sáng ngời của những ngôi sao nổi tiếng thuộc lớp ‘đ*n chị’ như Kim Vui, Khánh Ngọc, Kiều Chinh, Trang Thiên Kim… b* chủ hãng phim Mỹ Vân đã tinh ý phát hiện thấy Phụng. Cô nữ sinh Nguyễn Kim Phụng đã vượt qua hơn hai ng*n th* sinh, bước lên đ*i vinh quang bằng giải nhất của cuộc tuyển lựa bên ph*a nữ.

Từ vai diễn đầu tiên với vai Tam Nương trong Người Đẹp Bình Dương, đóng cặp với nam diễn viên Nguyễn Đình Dần trong vai Ho*ng t*, Thẩm Thúy Hằng bước lên ngôi vị nữ diễn viên khả ái nhất của m*n ảnh S*i Gòn v*o cuối th*p niên 50 đầu th*p niên 60. Có điều *t người biết l* địa danh Bình Dương trong cuốn phim lại không phải l* Thủ Dầu Một m* l* một địa danh ở... bên T*u.

Biệt danh Người Đẹp Bình Dương xuất hiện từ đó v* Thẩm Thúy Hằng đã đóng trên dưới 60 phim nổi tiếng thời đó l*: Tr* Hoa Nữ, Ngưu Lang-Chức Nữ, Sự T*ch Trầu Cau, Bạch Viên Tôn Cát, S*i Gòn Vô Chiến Sự, N*a Hồn Thương Đau, Đôi Mắt Huyền, Oan *i Ông Địa, Dang Dở, Tơ Tình, N*ng, Bóng Người Đi, Ng*m Ngùi, Mười Năm Giông Tố, Sóng Tình, Xin Đừng Bỏ Em…

Riêng đối với nhạc sĩ Thẩm Oánh, Thẩm Thúy Hằng xem như l* một người thầy, người cha tinh thần. Ch*nh nghệ danh Thẩm Thúy Hằng l* cô đã lấy họ Thẩm của ông dùng l*m nghệ danh cho mình. Thời đó, nhạc sĩ Thẩm Oánh l* hiệu trưởng Trường Ca Vũ Nhạc Phổ thông m* Thẩm Thúy Hằng theo học bộ môn kịch do ông Ho*ng Trọng Miên l*m giáo khảo tuyển sinh v* giáo sư kịch nghệ.

Năm 1969, Thẩm Thúy Hằng l*p nhóm l*m phim Thẩm Thúy Hằng (tiền thân của Vilifilms sau n*y). Phim đầu tay của Thẩm Thúy Hằng, Chiều Kỷ Niệm, với độ d*i 1 giờ 45 phút, l* phim thuộc thể loại tình cảm xã hội do Lê Mộng Ho*ng đạo diễn. Bộ phim đen trắng được tạp ch* M*n ảnh S*i Gòn ca tụng:

“Ngay ng*y chiếu cho khán giả xem, đồng b*o đã chen chúc tới hai rạp Rex v* Văn Hoa để gi*nh vé. Chỉ trong ng*y đầu công chiếu, rạp Rex đã thu về được hơn một triệu tiền Việt nam, còn Văn Hoa thu về hơn bảy trăm ng*n đồng. Sau đó, suốt trong một tuần lễ phim chiếu, ng*y n*o cũng đông như v*y, đến nổi cuốn phim được chiếu tiếp sang tuần thứ nhì. Điều n*y, l* một hiện tượng hiếm m* khán giả d*nh cho phim Việt nam”

Phim cuối cùng của Thẩm Thúy Hằng được quảng cáo chiếu tại các rạp Khải Ho*n, Casino Dakao, Kim Châu v* Lux trước ng*y S*i Gòn sụp đổ l* một phim h*i mang tên Ch*ng ngốc gặp hên. Phim n*y còn có sự hiện diện của La Thoại Tân cùng các danh h*i Văn chung, Thanh Việt v* Tùng Lâm.

Ch*ng ngốc gặp hên được chiếu tại các rạp từ ng*y 21/3/75, chỉ cách ng*y giải phóng S*i Gòn đúng 1 tháng 9 ng*y.



Thẩm Thúy Hằng bên chồng, Tiến sĩ Harvard Tony Nguyễn Xuân Oánh


Thẩm Thúy Hằng kết hôn với giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh. Ông Oánh tốt nghiệp đại học Harvard v* đã từng l*m Phó thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân h*ng Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, ông l*m cố vấn kinh tế cho Tổng b* thư Nguyễn Văn Linh v* Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông mất ng*y 29/08/2003 vì bệnh về tim mạch, hưởng thọ 82 tuổi. (Nhiều chi tiết về ông Nguyễn Xuân Oánh còn được đề c*p đến trong Chương 8: Thời mở c*a).

Thẩm Thúy Hằng hiện sống giản dị trong ngôi nh* yên tĩnh ở khu vực Bình Qưới, S*i Gòn. Gặp bạn bè đến thăm, cô vẫn vui vẻ khi được khơi gợi lại ký ức về cuộc đời nghệ thu*t. Ng*y nay, cô có cuộc sống riêng lặng lẽ v* âm thầm. Hằng ng*y, cô d*nh nhiều thì giờ cho việc ngồi thiền v* ăn chay trường.

Tôi nghĩ, trường hợp một nữ t*i t* t*i-sắc vẹn to*n như Thẩm Thúy Hằng l* quá hiếm trong nền điện ảnh S*i Gòn thời đó. Cô đã trở th*nh ‘người của công chúng’ v* giữ được cảm tình của nhiều người cho đến cuối đời với một cuộc sống đạo đức đáng phục. Một thi sĩ vô danh n*o đó đã s*a lời một b*i thơ nổi tiếng để thể hiện tình cảm của mình đối với Người Đẹp Bình Dương:

Nếu biết rằng em đã lấy chồng.
Anh về lấy vợ thế l* xong.
Vợ anh không đẹp bằng em lắm!
M* chỉ same same… Thẩm Thúy Hằng!

Reply With Quote
  #6  
Old 03-05-2011, 03:42 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

Triệu phú S*i Gòn xưa

Tôi vốn xuất thân ‘phó thường dân’. Từ thời thực dân Pháp, đến Việt Nam Cộng hòa rồi lại ‘đổi đời’ sang Xã hội Chủ nghĩa… thời n*o tôi cũng l* anh ‘phó thường dân’ nên rất khó viết về những nhân v*t vang bóng một thời của S*i Gòn xưa. Họ l* những ‘nhân v*t nổi tiếng’ (cả tiếng ‘l*nh’ lẫn tiếng ‘dữ’) nên rất khó len v*o ‘thế giới’ của họ. Có chăng chỉ l* những góp nhặt các tư liệu để viết về họ.

Tuy nhiên, sẽ l* một thiếu sót lớn nếu Chương 4: Thời quân ngũ không có *t dòng về những nhân v*t n*y. Họ ch*nh l* những ‘viên gạch v*ng’ v* cũng có thể l* những ‘hòn đất xấu x*’ trong việc xây dựng một cộng đồng nhiều m*u sắc của S*i Gòn. Nhưng họ l* ai?

Câu trả lời tùy thuộc v*o việc xắp xếp họ theo nhóm. Có thể bao gồm những người cầm quyền, những ông tướng cầm quân, những người tranh đấu cho lý tưởng, những ‘thiểu số’ t*i phiệt cầm trong tay tiền của ‘đa số’ dân chúng v* kể cả những ‘anh hùng hảo hán’ cầm trong tay sinh mạng của rất nhiều người.

Đâu đó trong Hồi Ức n*y có nói đến họ nhưng riêng trong b*i viết n*y tôi chỉ chọn 2 nhóm đối tượng: nhóm t*i phiệt v* nhóm giang hồ.

Đối với S*i Gòn ng*y xưa, gi*u đến mức ‘triệu phú’ được coi l* ‘nứt đố đổ vách’. Chẳng bù với thời nay, tiêu chuẩn gi*u đã lên đến mức ‘tỷ phú’ hay cao hơn nữa l* ‘triệu phú đôla’. Mới đây, theo một danh sách không ch*nh thức, một số nh* gi*u người Việt th*m ch* đã gia nh*p ‘câu lạc bộ tỷ phú’ của thế giới.

Theo đạo lý từ nghìn xưa, người ta chỉ trọng những người l*m gi*u một cách chân ch*nh, bằng mồ hôi nước mắt của ch*nh mình. Những kẻ l*m gi*u ‘cơ hội’ rồi cũng bị thế gian điểm tên, chỉ mặt. Ngạn ngữ Anh có câu: “Một lương tâm tội lỗi không cần kẻ buộc tội” (A guilty conscience needs no accuser). Mỗi con người đều có ng*y phán xét cuối cùng của riêng mình. Hơn nữa, người Việt vẫn thường quan niệm, của phi nghĩa không bền, hoặc của thiên trả địa… Vấn đề chỉ l* thời gian.

***

Ng*y trước, Chú Hỏa (1845-1901) hay Hứa Bổn Hòa, Hui Bon Hoa, Jean Baptiste Hui Bon Hoa, một thương nhân người Việt gốc Hoa, l* một trong những người giầu nhất S*i Gòn. Chú Hỏa gốc ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, tên khai sinh l* Hứa Bổn Hòa (Hui Bon Hoa), thuộc dòng dõi những người nh*p cư v*o miền Nam Việt Nam sau khi người Mãn Châu đánh bại nh* Minh.

V*o thời Pháp thuộc, để vinh danh Chú Hỏa, một con đường đã được mang tên Hui Bon Hoa v* sau n*y, v*o thời Đệ nhất Cộng hòa, đường được đổi tên th*nh Lý Thái Tổ, nơi có tiệm phở T*u Bay nổi tiếng S*i Gòn với tô ‘xe l*a’. Trên đường Lý Thái Tổ, gần Ngã 6 Cộng hòa, có một cụm gồm 7 biệt thự chiếm một khu đất hình tam giác l* t*i sản của Chú Hỏa ng*y n*o. Hiện giờ khu ‘tam giác v*ng’ n*y đã trở th*nh khu Nh* khách Ch*nh phủ…


Khu 7 biệt thự của Chú Hỏa nằm ở góc đường Lý Thái Tổ gần Ngã Sáu S*i Gòn
(nay l* Nh* khách Ch*nh phủ)


Theo lời đồn đãi có t*nh cách ‘huyền thoại’, việc l*m gi*u của chú Hỏa ngo*i sự cần cù, chịu thương chịu khó, cũng còn có chút may mắn. Người ta kể, có một ông Tây qua Nam kỳ l*m ăn, sau một thời gian d*i đã gom góp được một số t*i sản rất lớn. Vì một tai nạn bất ngờ, ông chết m* chẳng kịp trăn trối. Lu*t sư yêu cầu con cái ông ta sang Việt Nam thừa kế di sản của người cha quá cố.

Người con n*y lại không có ý định sống ở Việt Nam nên cho phát mãi hết t*i sản của cha mình. T*i sản n*y rất lớn, gồm nh* c*a, đồn điền, cơ sở kinh doanh v* một số tiền lớn g*i ở ngân h*ng. Người con bán tất cả đồ đạc trong nh* vì người chủ mới không muốn s* dụng đồ dùng của người chết.

Lúc đó chú Hỏa đang mua bán ve chai. Chú bèn đến thầu mua tất cả những đồ lặt vặt ấy. Trong số những đồ đạc linh tinh n*y, có một tấm thảm đã cũ nhưng còn dùng được. Chú Hỏa đem tấm thảm chải sạch bụi, định để bán lại thì khám phá ra cả một t*i sản to lớn gồm v*ng lá, tiền v*ng, giấy bạc loại lớn v* một số kim cương...

Có số tiền ‘từ trên trời rơi xuống’ n*y, chú Hỏa bắt đầu mua sắm nh* c*a, đất đai, xây nh* cho thuê, đầu tư kinh doanh v* trở th*nh người gi*u tiếng tăm nhất trong giới người Hoa lẫn người Việt tại th*nh phố S*igon Chợ Lớn v*o đầu thế kỷ 20.

Từ một anh T*u mua bán ve chai trên đường phố S*i Gòn-Chợ Lớn, Chú Hỏa nh*p quốc tịch Pháp v* đổi tên th*nh Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Ông th*nh l*p công ty Hui Bon Hoa, một công ty bất động sản sở hữu trên 20.000 (?) căn nh* ở S*i Gòn đồng thời xây dựng rất nhiều công trình công cộng có giá trị lớn ở vùng S*i Gòn-Gia Định-Chợ Lớn vẫn còn tồn tại đến ng*y nay.

Khách sạn Majestic đường Tự Do, Bệnh viện S*i Gòn đường Lê Lợi, Bệnh viện Từ Dũ đường Cống Quỳnh, khu Nh* khách Ch*nh phủ đường Lý Thái Tổ, nhiều ngân h*ng, trụ sở thương mại ở Qu*n 5 v* các công trình nh* riêng, chùa chiền, bệnh viện khác của Chú Hỏa.

Dinh cơ đồ sộ, biệt thự nguy nga của chú Hỏa chiếm cả một khu vực rộng lớn gần 200 hécta ở qu*n Nhì, bao gồm khu tứ giác Phó Đức Ch*nh - Nguyễn Công Trứ - Hồ Văn Ng* - Calmette.


Dinh cơ của Chú Hỏa nằm trong khu tứ giác Phó Đức Ch*nh - Lê Thị Hồng Gấm - Calmette - Nguyễn Thái Bình ng*y nay l* Bảo t*ng Mỹ thu*t


Bỏ qua những yếu tố ch*nh trị-xã hội, Chú Hỏa đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình th*nh bộ mặt th*nh phố S*i Gòn với tấm lòng của một người gi*u có hướng ra cộng đồng. Nh* biên khảo Vương Hồng Sển từng nh*n xét: “Tuy l*m gi*u cho mình đã đ*nh, nhưng Chú Hỏa cũng giúp *ch rất nhiều cho sự mở mang thịnh vượng kinh tế miền Nam”.

Sự nghiệp của ông ở Việt Nam vẫn được con cháu tiếp tục sau khi ông mất. Mãi đến sau năm 1975 họ đều đi ra nước ngo*i sinh sống.

***

Ở S*i Gòn v*o những th*p niên 40-50, nhãn hiệu X* bông Cô Ba rất phổ biến, không những tại Việt Nam m* còn lan rộng sang t*n xứ Cao Miên v* L*o. X* bông thơm Cô Ba nổi danh trong mấy th*p niên liền, đủ sức đánh bạt x* bông ngoại hoá, nh*p cảng từ Pháp.

Nếu người miền Bắc khâm phục nh* t*i phiệt Bạch Thái Bưởi thì ở miền Nam có ông Trương Văn Bền (1883 – 1956), chủ nhân nhãn hiệu X* bông Cô Ba. Cả hai đều th*nh công trên thương trường nhưng lại không hề trải qua trường lớp v* dĩ nhiên, cũng không bằng cấp. Họ l* những con người có đầu óc kinh doanh, tháo vát, nhiều sáng kiến.

Trước khi l*m một nh* doanh thương, ông Bền còn l* một ông Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Gia sản đồ sộ của Trương Văn Bền l* do công sức của ông l*m ra. Không phải ông Bền l*m gi*u bằng ruộng đất, ông có một lối đi riêng bằng con đường công nghiệp đáng để l*m gương cho những người đi sau.

L* người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền sinh trưởng trong một gia đình khá giả. Ông có đi Pháp nhiều lần, nhưng chưa hề học qua một trường lớp n*o. Theo bảng lượng giá để đánh thuế của Phủ to*n quyền Đông Dương ở H* Nội, năm 1941, ông Trương Văn Bền phải đóng thuế cho ch*nh phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng, trong khi đó, giá v*ng khoảng 60 đồng/lượng.

L* người nhạy cảm trong kinh doanh, ông Bền biết rõ một tiềm năng kinh tế Việt Nam chưa được khai thác: đó l* cây dừa. Từ năm 1918, ông đã l*p xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ x* bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1.500 tấn.

Năm 1932, hãng x* bông Trương Văn Bền được th*nh l*p tại đường Quai de Cambodge trong Chợ Lớn (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn x* bông giặt mỗi tháng. Từ khi X* bông Cô Ba, x* bông thơm đầu tiên của Việt Nam, ra đời đã đánh bạt x* bông thơm của Pháp, nh*p cảng từ Marseille, nhờ phẩm chất tốt, giá th*nh thấp.

Trong thương trường, ông Bền chủ trương luôn cải tiến chất lượng v* sản phẩm phải hợp với túi tiền người tiêu dùng. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt, ăn xổi ở thì. Mặc đầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp.



X* bông Việt Nam của Trương Văn Bền


Khi máy giặt được phát minh v* nh*p cảng v*o Việt Nam, ông Bền liền sản xuất loại bột giặt để th*ch ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, v* bột giặt Việt Nam của hãng x* bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi th*nh Hãng X* bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt nh*p cảng từ Mỹ.

Người S*i Gòn không ai không biết đến x* bông Cô Ba. Hình ảnh quen thuộc của Cô Ba với mái tóc vấn cao in nổi ngay trên cục x* bông thơm, ngo*i hộp x* bông bằng giấy carton cũng có in hình người đ*n b* ‘búi tóc’.

Nhiều giai thoại kể lại rằng người đ*n b* in hình trong cục x* bông thơm ch*nh l* người vợ thứ của ông Bền. Cái hay của ông Trương Văn Bền l* biết áp dụng tâm lý trong kinh doanh, đưa hình ảnh Cô Ba, người mang đ*m vẻ đẹp của phụ nữ miền Nam l*m nhãn hiệu cho sản phẩm h*ng hoá của mình.

Khi đã định hình được tên tuổi sản phẩm v* thị trường tiêu dùng, Trương Văn Bền đặc biệt chú trọng v*o khâu quảng cáo, khuếch trương thương hiệu. Trong suốt thời gian d*i, hầu hết báo ch* thời đó đều đăng quảng cáo “Dùng x* bông xấu, mục quần áo” hoặc “Người Việt Nam nên x*i x* bông Việt Nam” của Hãng X* bông Trương Văn Bền.

Trong các cuộc triễn lãm được mở c*a h*ng năm tại S*i Gòn v* các tỉnh, bao giờ gian h*ng của ông Bền cũng được thiết kế ấn tượng nhất với mô hình một cục x* bông khổng lồ, gây được sự chú ý v* tò mò đặc biệt của người xem. Chưa dừng lại ở đó, tại các gian h*ng còn bán x* bông gọi l* ‘ch*o h*ng’ với giá rẻ hơn bên ngo*i đến 25%.

Trương Văn Bền còn đưa nhãn hiệu x* bông Việt Nam v*o những loại hình nghệ thu*t dân tộc được người Việt yêu th*ch như vọng cổ, thơ lục bát, đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước. Có thể nói, từ giới bình dân đến tr* thức đều biết v* đều dùng sản phẩm của ông.

Với sự ra đời của Hãng X* bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt Nam có được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần v*o công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Các xưởng ép dầu, xưởng l*m x* bông, tạo công ăn việc l*m cho hơn 200 công nhân. Khi công việc l*m ăn phát đạt thêm, ông Bền còn xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau (đường Hùng Vương ng*y nay) v* Général Lizé (đường Minh Mạng).

Ông Bền có nhiều con. Tôi được nghe nhắc tới ông Trương Khắc Tr*, từng l* chủ tịch ban quản trị Việt nam Công Thương Ngân H*ng (th*nh l*p năm 1953) tại S*i gòn. Người con trai út, ông Trương Khắc Cần, thay cha quản lý Hãng X* bông Việt nam cho tới năm 1975. Ông Trương Khắc Cần được nh* nước ‘ưu ái’ cho phép hiến tặng tất cả t*i sản m* gia đình thân phụ ông tạo l*p từ hơn n*a thế kỷ nay, để được đi định cư tại Pháp!



Quảng cáo X* bông Việt Nam với tên ‘Trưong Van Beng’ nơi góc phải


Sau năm 1975, Công ty Trương Văn Bền v* Các con trở th*nh Nh* máy Hợp doanh X* bông Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Năm 1995, đơn vị n*y trở th*nh công ty Phương Đông thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 7/1995, công ty Phương Đông liên doanh với t*p đo*n Proter & Gamble (P&G) l*p một nh* máy mới ở Sông Bé.

Trong ký sự Một tháng ở Nam Kỳ, nh* văn Phạm Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn Bền, với giọng văn của th*p niên 1940:

“Ông Trương Văn Bền l* một nh* công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở H* Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nh* máy dầu v* nh* máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế m* chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng b*o ta ng*y một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nh* v* thoát ly được cái ách người T*u về đường công nghệ thương nghiệp”.

Những ông ‘vua’ ng*nh thuốc

Trong số những người th*nh công với nghề y dược tại S*i Gòn trước đây, dược sĩ La Th*nh Nghệ l* một khuôn mặt nổi b*t, được nhiều người biết tiếng. Vốn người Triều Châu, sinh trong gia đình gi*u có, La Th*nh Nghệ được du học bên Pháp v* đ*u bằng dược sĩ. Điểm qua những nhân v*t gi*u có, tiếng tăm thuộc ng*nh y dược thời đó còn có các dược sĩ Trần Văn Lắm, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai…

La Th*nh Nghệ được phong l* ‘vua thuốc đỏ’, một sản phẩm rất tầm thường, giá trị kinh tế thấp, nhưng được mọi giới ưa chuộng v* rất phổ biến từ th*nh thị tới thôn quê. Khi chiến tranh c*ng ng*y c*ng leo thang, nhu cầu s* dụng thuốc đỏ c*ng nhiều thì La Th*nh Nghệ được phép l*m đại lý độc quyền phân phối thuốc đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi rất lớn.

Ít ai nghĩ rằng với một thứ sản phẩm tầm thường, rẻ tiền như thuốc đỏ m* l*m nên sự nghiệp kếch xù của La Th*nh Nghệ. Trước khi miền Nam thất thủ, những ai có dịp đi qua đường Tự Do chắc đã thấy Laboratoire La Th*nh, nằm giữa hai nh* h*ng La Pagode v* rạp Eden.



Dược sĩ La Th*nh Nghệ (góc trái)


Thuốc đỏ, tiếng Pháp gọi l* mercure crome, một thứ dung dịch m*u đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ để sát trùng. Thời đó, thuốc đỏ do Laboratoire La Th*nh sản xuất, được s* dụng trong các bệnh viện, các quân y viện, các bệnh viện dã chiến, các trung tâm y tế, các đơn vị quân y… v* rất được dân chúng từ th*nh thị tới thôn quê ưa chuộng vì nó rẻ tiền m* lại hiệu nghiệm.

La Th*nh Nghệ còn nh*p cảng các loại thuốc trụ sinh, một thứ thần dược trị các vết thương. Ngo*i hai loại thuốc đỏ v* trụ sinh, Laboratoire La Th*nh còn sáng chế một thứ pommade để trị bịnh phong tình. Bịnh n*y thường có mụn đỏ chung quanh háng v* bộ sinh dục. Muốn điều trị chỉ cần xức pommade v*o chỗ đó, sau khi r*a vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ. Chỉ v*i ba lần xức pommade, người bịnh cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát v* bình phục!

Thanh niên bị bịnh phong tình thường có mặc cảm không muốn đến bệnh viện hay đi bác sĩ tư để chữa trị. Họ mua thuốc pommade của dược sĩ La Th*nh Nghệ v* tự chữa lấy. Nhờ biết được yếu tố tâm lý ấy, sản phẩm của La Th*nh Nghệ bán chạy như tôm tươi.

Khi trở nên gi*u có, La Th*nh Nghệ sống thầm lặng, *t khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nh* gi*u khác. Mấy th*p niên trước, dân ăn chơi S*i Th*nh, không ai không nghe tiếng hoặc biết đến ‘công t*’ Ho*ng Kim Lân, con của ‘vua dây kẽm gai’ Ho*ng Kim Quy.

Tôi được nghe, có lần tại vũ trường Maxim, ông Ho*ng Kim Lân đứng lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay l* ng*y sinh nhựt của tôi. Tôi xin đãi tất cả quý vị có mặt tại đây. Quý vị tha hồ ăn uống bất cứ món gì m* không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó, rượu sâm banh chảy ra như suối v* khách ăn chơi vỗ tay như sấm để tán thưởng sáng kiến độc đáo của mạnh thường quân Kim Lân!

Trở lại chuyện La Th*nh Nghệ, ông l* người chỉ giao thiệp với giới nh* gi*u v* thượng lưu, tr* thức ở S*i Gòn. Tuy sống trên đống v*ng, nhưng ông không phung ph* tiền bạc để mang tai tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Th*nh Nghệ ra ứng c* Nghị sĩ Quốc Hội, chung liên danh Bạch Tượng với Dược sĩ Trần Văn Lắm v* đắc c*. Ông Trần Văn Lắm có lúc l*m Phó chủ tịch Thượng Viện v* Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ Quốc Hội chỉ để trang tr* cho La Th*nh Nghệ hơn l* nghề hái ra liền như viện b*o chế La Th*nh của ông. Do đó, trong thời gian tham ch*nh, dư lu*n hay báo ch* không nghe ông tuyên bố hay có h*nh động ch*nh trị n*o… Ông cũng tránh xa các áp-phe l*m ăn của các ông tai to mặt lớn khác.

Dược sĩ La Th*nh Nghệ cuối cùng lại l* nạn nhân của Tổng Thống Trần văn Hương, người đã gây khó khăn cho những người di tản bằng sắc lệnh cấm công chức, sĩ quan v* thanh niên trong tuổi quân dịch ‘di tản’ v*o những ng*y cuối cùng của S*i Gòn. La Th*nh Nghệ vượt biển quá sớm, bị hải quân VNCH bắt đem về đất liền, ở lại S*i Gòn v* cuối cùng được ‘ch*nh quyền cách mạng’ cho đi học t*p cải tạo.

Một dược sĩ khác cũng th*nh công v* nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho của trẻ em l* ông Nguyễn Ch* Nhiều. Ông Nhiều l*p Nguyễn Ch* Dược Cuộc, sản xuất v*i thứ thuốc thông dụng trong đó nổi b*t nhất l* Euquinol, thuốc ban nóng d*nh cho trẻ em. Thuốc Euquinol trở nên quen thuộc đối với các b* nội trợ từ th*nh thị đến nông thôn. Hễ ai có con nóng đầu, người nh* hay lối xóm liền thúc hối… mua thuốc Euquinol.

Euquinol được b*o chế theo dạng thuốc Tây bằng bột m*u trắng, khác với hình dạng gói thuốc cao đơn ho*n tán của các tiệm thuốc Bắc. Euquinol của Nguyễn Ch* Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được b*y bán trong các tiệm thuốc tây v* cả các tiệm tạp hoá nên dân chúng mua dễ d*ng. Dần dần, thuốc ban Euquinol đánh bại thuốc “Ngoại cảm tán” của nh* thuốc Nhị Thiên Đường vốn độc chiếm thị trường mấy th*p niên trước đó.

Ông Nguyễn Ch* Nhiều l* người có sáng kiến, biết lợi dụng các cuộc tranh t*i thể thao để quảng cáo sản phẩm của mình. Hễ có cuộc đua xe đạp đường trường n*o l* cũng có các xe thuốc Euquinol đi kèm. Sau n*y ông trở th*nh ‘ông bầu’ của đo*n cua-rơ mang tên Euquinol. Đo*n xe đạp n*y l* một ê-k*p gồm những tay đua do ch*nh ông tuyển chọn v* t*i trợ để t*p dượt v* tranh t*i trong các cuộc đua Vòng Cộng Ho* từ năm 1956 trở đi.

Đội xe đạp Euquinol l* một đội đua chuyên nghiệp, dược sĩ Nguyễn Ch* Nhiều phát lương để t*p dợt. Ch*nh ông bỏ tiền ra mua xe đạp v* cung cấp phụ tùng. Khi đã trở th*nh cua-rơ của đội họ khỏi b*n tâm lo sinh kế, ngo*i chuyện cố tâm luyện l*p. Vì thế đội Euquinol thường l*p được nhiều th*nh t*ch, chiếm các giải đồng đội v* cá nhân trên các đường đua.

Những nh* thuốc tây xưa nhất ở S*i Gòn phải kể đến các tiệm Pharmacie Mus của ông Beniot, Pharmacie Sohrenne, Pharmacie Normale, Pharmacie de France… Đó l* những nh* thuốc Tây m* chủ nhân đều l* dược sĩ người Pháp. Nh* thuốc n*o cũng có phòng b*o chế riêng để chế thuốc theo toa bác sĩ.

Nh* thuốc của người Việt có Cường Lắm ở góc đường Mac Mahon (Công Lý) v* đường Bonard (Lê Lợi), chủ nhân l* dược sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, ông Lắm trở th*nh Thượng nghị sĩ v* Ngoại trưởng. Ngo*i ra còn có Pharmacie Lý, chủ nhân l* dược sĩ Nguyễn Thị Lý; Pharmacie Dương Hữu Lễ của dược sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn) v* Pharmacie Nguyễn Văn Cao ở góc đường Chợ Mới v* đường Bonard.



Pharmacie Nguyễn Văn Cao


Trong các ng*nh công kỹ nghệ của Việt nam Cộng ho* (1954-1975), nhiều người cũng biết l*m gi*u bằng cách ‘chuyên môn hóa’ việc buôn bán một mặt h*ng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao *t ai ngờ. Thời thế đã giúp họ l*m gi*u nhanh chóng nhưng cũng không loại trừ khả năng họ phải ‘đóng thuế’ cho ph*a bên kia để được yên ổn l*m ăn. Như v*y, họ phải chịu hai đầu thuế của Cộng hòa v* Việt cộng. Tuy nhiên, những chi ph* n*y được t*nh v*o giá th*nh sản phẩm v* thiệt thòi l*… người tiêu dùng.

Trong số những nhân v*t gi*u có n*y phải kể đến ‘Vua vương quốc Chợ Lớn’ l* Bang trưởng Triều Châu Trần Th*nh, ‘Vua sắt thép, dệt may’ Lý Long Thân, ‘Vua lúa gạo’ Trần Th*nh, Mã Hỉ v* Lại Kim Dung, ‘Vua nông cụ’ Lưu kiệt, Lưu Trung, ‘Vua ngân h*ng’ Nguyễn Tấn Đời v* ‘Vua bột giặt Viso’ Trương Văn Khôi.

Giới Đông y cũng có những tên tuổi lừng lẫy với các loại thuốc gia truyền, rẻ tiền nhưng lại hiệu nghiệm. Người ta thường nhắc đến Võ Văn Vân, người sáng l*p nh* thuốc mang cùng tên với các sản phẩm như “Tam tinh hải cẩu bổ th*n ho*n” trị bịnh yếu sinh lý, tráng dương, bổ th*n, dùng cho đ*n ông để tăng cường sinh lực v* “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau lưng, nhức mỏi rất công hiệu.

Hồi đó, các xe quảng cáo của nh* thuốc Võ Văn Vân còn khoe rằng “Bá đả quân sơn tán” l* thuốc dùng khi bị té, các võ sĩ, người lao động chân tay như l*m ruộng, l*m công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn…) đều ‘phải’ uống thuốc n*y, vì nó ‘hiệu nghiệm như thuốc tiên’!

V*o khoảng những năm 1955-1957, các nh* thuốc thường tổ chức những xe thuốc đi bán dạo ở miền quê. Mỗi xe có người l*m trò vui như xiếc, ảo thu*t, phụ họa với d*n kèn trống để thu hút khán giả. Xen kẽ v*o những trò vui ấy l* m*n bán thuốc. Người nh* quê lúc ấy gọi các xe bán thuốc dạo l* “Sơn Đông Mãi Võ”.

Tuy l* đông y sĩ, nhưng ông Võ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các ng*nh y v* dược. Trong số các con của Võ Văn Vân, có ông Võ Văn Ứng, từng nổi tiếng l* Mạnh Thường Quân của túc cầu S*i Gòn qua cái tên thân m*t l* ‘Bầu Ứng’. Ông Võ Văn Ứng còn l*m Tổng giám đốc Nam Đô Ngân h*ng v* Khách sạn Nam Đô.

Một nh* thuốc đông y khác, cũng nổi tiếng cùng thời, l* nh* thuốc Võ Đình Dần ở Chợ Lớn. Thuốc *ch kh* bổ th*n “C*u Long Ho*n”, chuyên trị mệt mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu như ai cũng thuộc lòng câu: “Một viên C*u Long ho*n bằng 10 thang thuốc bổ” của nh* thuốc Võ Đình Dần.

Nh* thuốc n*y cũng có một đội ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe cam nhông, gọi l* Sơn Đông Mãi Võ. Theo nh* văn Hồ Trường An, thuốc C*u Long ho*n được các người lao tâm, lao lực, thức đêm, l*m việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ trường, các nghệ sĩ sân khấu cải lương, các tay cờ bạc… tóm lại những kẻ lấy ng*y l*m đêm, đều dùng C*u Long ho*n, để phục hồi sức lực.

Nh* thuốc Nh*nh Mai ở Phú Nhu*n, nổi tiếng với món thuốc dưỡng thai hiệu Nh*nh Mai. Ngo*i ra, món thuốc dán hiệu Nh*nh Mai, trị mụn nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụn nhọt, chỉ cần trét thuốc v*o miếng vải cắt tròn, lớn cỡ đồng xu, ở giữa có đục lỗ, rồi dán lên mụt nhọt. Chừng v*i ng*y sau, gỡ miếng vải ra thì mủ v* cùi nhọt… lòi ra.

Hồi S*i Gòn còn xe điện chạy theo lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) S*i Gòn-Chợ Lớn v* Boulevard de la Somme (H*m Nghi) đến chợ Tân Định, hai bên th*nh xe điện có nhiều bảng quảng cáo như: Một viên C*u Long Ho*n bằng 10 thang thuốc bổ của nh* thuốc Võ văn Vân, Thuốc xổ Nh*nh Mai, Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiễn T*n, Kem đánh răng Hynos ‘cha-cha-cha’ mang hình anh Bảy Ch* ‘đen như cột nh* cháy với h*m răng trắng bóc’, thuốc lá Jean Bastos v* th*m ch* cả… Hòm Tôbia ‘danh tiếng nhất’.



Quảng cáo trên xe điện


Nh* thuốc Đại Quang do người T*u ở Chợ Lớn cũng nổi tiếng với món thuốc “Huyết Trung B*u”, loại thuốc điều ho* kinh nguyệt d*nh cho phụ nữ. Thuốc n*y từ khi xuất hiện trên thị trường đã đánh bạt “Nữ Kim Đơn” vì nhờ quảng cáo mạnh trên các báo ch* ở S*i Gòn. Đã v*y, hãng Đại Quang cũng như nh* thuốc Ông Tiên (của Nguyễn Ho*ng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện lịch s*, b*i ca vọng cổ… để giới thiệu các thứ thuốc của hãng mình cho khắp đồng b*o Lục tỉnh.

Nh* thuốc Đại Từ Bi cũng có xe cam nhông b*t mui, bán dạo khắp Nam Kỳ, từ th*nh thị đến thôn quê, đặc biệt l* các t*i t* biết đờn ca vọng cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm n*o đó để bán thuốc. Tuồng t*ch phần nhiều kể chuyện Ông Trương Tiên B*u, Kim Vân Kiều, Cánh Buồm Đen…

Trước năm 1954, dân Nam Kỳ, nhứt l* dân ‘thủ cựu’ ở thị th*nh v* dân ở các vùng n*a chợ n*a quê, dân miệt vườn… đều chê thuốc Tây nóng nên không dùng. Cũng vì thế các tiệm thuốc Bắc mọc lên như nấm.

Người khách trú, một khi mở tiệm thuốc, ngo*i các dược thảo, dược phẩm, còn bán thêm các loại cao đơn ho*n tán do các nh* thuốc Việt Nam b*o chế, lại thêm các loại thuốc đặc chế từ bên T*u như Thượng Hải, Hồng Kông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây nh*p cảng v*o. Thị trường thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc tại S*i Gòn v* cả miền Nam phát triển mạnh. ‘Trăm hoa đua nở, trăm nh*… uống thuốc’!

Bên cạnh mỹ phẩm như Bạch ngọc cao, một loại kem xức cho da mặt mịn m*ng, còn có Bóng nha duyên dùng để ch* răng cho trắng. Bóng nha duyên xúc miệng không thơm bằng phấn ch* răng của Tây đặc chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy. Dân miệt vườn thì dùng xác cau ch* răng, chưa quen với việc dùng b*n chải…

Đến khi kem đánh răng Leyna xuất hiện với hình nữ minh tinh Kim Vui cười phô h*m răng trắng đều, v* sau đó l* kem Hynos của ông Vương Đạo Nghĩa (1965) với người đ*n ông da đen cười răng trắng nhởn, thì Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Bóng nha duyên cũng rút lui không kèn không trống.

Điểm nổi b*t của ông chủ trẻ Vương Đạo Nghĩa l* nghệ thu*t quảng cáo cho kem đánh răng Chú Ch* V* Hynos sau khi anh được thừa hưởng gia t*i từ một ông chủ người Mỹ có vợ Việt. Hình ảnh chú Hynos xuất hiện hầu như khắp hang cùng ngõ hẻm S*i Gòn. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đ*i phát thanh v* trên chiếc deux chevaux (2CV) bán h*ng tại các chợ S*i Gòn.



Quảng cáo kem đánh răng Hynos


Người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại tr*ch ra 50% lợi nhu*n cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây l* một tỷ lệ quảng cáo đột phá v* đầy ấn tượng trong bối cảnh nền thương mại của S*i Gòn xưa đang trên đường hội nh*p v*o thế giới tư bản.



Reply With Quote
  #7  
Old 03-05-2011, 03:49 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

S*i Gòn tứ đổ tường: thuốc phiện

Từ những năm 1920, S*i Gòn đã được tôn vinh l* La Perle de l’Orient tức Hòn Ngọc Viễn Đông. Cũng cần phải nói thêm, danh hiệu n*y do những ký giả hoặc nh* văn người Pháp ban tặng chứ không phải do dân S*i Gòn tự phong. Sau 1945, S*i Gòn vẫn hơn hẳn Bangkok về nhiều mặt, nhất l*… ăn chơi.


Chế độ bảo hộ của người Pháp đã để nhân dân Nam Kỳ ăn chơi ‘tự do’, th*m ch* đến mức xa đọa. Những món ăn chơi được gọi chung l* ‘tứ đổ tường’ gồm: yên (thuốc phiện), đổ (cờ bạc), t*u (rượu chè), sắc (trai gái) đều được coi như hợp pháp trong suốt thời gian từ 1945 đến 1954.

Rồi Em sẽ dìu Anh trên cánh khói…

Thuốc phiện l* một đề t*i nổi b*t trong các món ‘ăn chơi’ của S*i Gòn v*o những th*p niên trước 1950. Thuốc phiện có thể được dùng để hút, nhưng cần nhiệt độ cao để chất alkaloid bốc hơi, vì thế người ta thường s* dụng những ống điếu đặc biệt, gọi l* dọc tẩu, mỗi khi hút. Người hút nằm tựa bên cạnh chiếc đèn dầu lạc, thổi v*o chiếc dọc tẩu ph*a trên than hồng để tăng nhiệt. Khi thuốc phiện bay hơi, người hút bắt đầu h*t v*o để ‘phê’.


Cảnh hút thuốc phiện thời xưa


Theo Wikipedia, trước khi khám phá ra cách đốt v* hút (bắt chước từ người thổ dân châu Mỹ hút thuốc lá), người Âu Á thường nhai hoặc uống thuốc phiện. Trong thế kỷ 17 - 18 thuốc phiện xuất hiện với tên gọi madak, một loại thuốc pha trộn á phiện v* thuốc lá. Đến thế kỷ 19, madak bị cấm ở Trung Quốc, thuốc phiện nguyên chất được người chơi hút nhiều hơn v* bắt đầu lan tr*n khắp nơi trên thế giới.

Trong thế kỷ 19, hoạt động buôn l*u thuốc phiện tới Trung Quốc xuất phát từ Ấn Độ, đặc biệt l* hoạt động của người Anh, l* nguyên nhân ch*nh gây ra cuộc chiến mang tên Chiến tranh thuốc phiện. H*u quả của cuộc chiến n*y l* Vương quốc Anh đã chiếm giữ Hồng Kông v* thảo ra một thỏa ước m* người Trung Quốc gọi l* "sự xỉ nhục thế kỷ". Buôn bán thuốc phiện đã trở th*nh một trong những nghề thu lời lớn nhất v* được nh* nghiên cứu lịch s* thuộc Đại học Harvard, ông John K. Fairbank đánh giá l* "tội ác kéo d*i nhất v* mang t*nh hệ thống quốc tế trong thời hiện đại."


Hút thuốc phiện tại các nước Phương Tây


Một cách thông dụng khác l* l*m bay hơi thuốc phiện trên một tấm kim loại được đun nóng từ ph*a dưới bằng hộp quẹt. Hơi thuốc sau đó được h*t v*o thông qua một ống nhỏ. Đây l* giây phút được gọi l* ‘lên tiên’, v* đây cũng l* một cách chung để hút các thuốc có hòa thuốc phiện khác – morphine, heroin – m* ta thường thấy trong các loại ma túy ng*y nay.

Cây anh túc thuốc phiện l* loại cây vườn phổ biến v* thu hút. Hoa của chúng đa dạng về m*u sắc, k*ch cỡ v* hình dáng. Vỏ hạt khô của chúng thường được dùng để trang tr* v* các hạt nhỏ có chứa một lượng chất alkaloids có chứa thuốc phiện còn được dùng l*m lớp mặt phổ biến v* có hương thơm của bánh mỳ v* bánh ngọt.



Dòng nhựa từ cây anh túc


Sách Quốc văn giáo khoa thư từ thời Pháp thuộc đã lên tiếng cảnh báo về thuốc phiện:

Trông thầy Chánh Còm ai cũng biết l* người nghiện. Trước kia, thầy l* người béo tốt phương phi, tinh nhanh khôn khéo, m* bây giờ thì mặt bủng, da chì, xo vai, rụt cổ, giọng nói kh*n kh*n, cái môi thâm sịt, nom người lẻo khẻo như cò hương. Thầy mới ăn thuốc phiện mấy năm nay m* đã khác hẳn đi v*y [thời xưa người ta thường nói ‘ăn thuốc’ theo tiếng T*u ‘Xực Dz*n’ chứ không dùng từ ‘hút’ như ng*y nay – NNC].

“Thầy Chánh Còm từ khi đa mang thuốc xái đến giờ, th*nh ra lười biếng, ch*m trễ. Sáng d*y, *t ra cũng phải mươi lăm điếu mới mở mắt ra được, v* cả ng*y chỉ quanh quẩn cạnh b*n đèn, chỉ cái xe, cái lọ, ngo*i ra không thiết đến việc gì nữa.

“Xem thế mới biết thuốc phiện l* một thứ thuốc độc rất hại. Nó hại cho sức khoẻ, hại tinh thần. Nó l*m cho mất thì giờ, mất tiền của, có khi mất cả phẩm giá con người nữa. V*y ta chớ nên hút thuốc phiện”.



Chân dung một đệ t* Phù dung


Sách thì giáo dục học sinh như thế nhưng trên thực tế thuốc phiện được ch*nh phủ bảo hộ độc quyền nh*p cảng v* điều h*nh việc phân phối. Theo nhiều nguồn tư liệu, tiệm thuốc phiện thời xưa có một bộ mặt khá kỳ lạ: trước c*a không treo biển hiệu m* chỉ gắn một bảng trắng kẻ hai chữ RO (Régie Opium) tức l* Công quản thuốc phiện.


Pháp-Việt đuề huề bên b*n đèn


Mùi thuốc phiện nướng bốc lên thơm phức như thúc giục khách bước nhanh v*o. Các bộ ván gõ bóng loáng với những chiếc gối s*nh mát lạnh như vẫy tay ch*o mời khách ngả lưng. Trong Người Bình Xuyên tác giả Nguyên Hùng đã mô tả:

“Hai Vĩnh cúi xuống tấm c*a nhỏ t* ti, vừa đủ thò b*n tay v*o trao tiền v* nh*n thuốc phiện rót trong vỏ sò. C*a nhỏ như c*a ghi-sê bưu điện bán tem. Xong anh đi thẳng vô trong, chọn chỗ nằm ưng ý. Anh cởi áo sơ mi mắc lên móc, cởi gi*y rồi nằm xuống ván, kê đầu trên gối s*nh phết men xanh.

Trong buồng thuốc, một lão ốm tong teo lui cui rót v*i giọt đen sệt v*o vỏ sò, th*n trọng như một chủ hiệu kim ho*n cân v*ng trên cân tiểu ly - vì đây cũng l* v*ng. Một a xẩm mang vỏ sò ‘v*ng đen’ ấy đến t*n nơi Hai Vĩnh nằm. Anh ra dấu bảo a xẩm l*m thuốc cho mình.

Với ngón tay điêu luyện, ả điều khiển các giọt đen sệt ấy trên ngọn đèn dầu như một nh* ảo thu*t. Không mấy chốc, dọc tẩu đã nạp. Hai Vĩnh r*t một hơi. Khói thơm từ mũi phả ra cuồn cuộn. Anh có cảm tưởng như thoát trần, thân xác nhẹ nh*ng như bay bổng trên mây.

L*m đủ một cặp, thấm thuốc anh nằm đê mê, n*a say n*a tỉnh. Bao nhiêu ưu phiền, nghèo túng, thất tình đều bay theo l*n khói về chốn hư vô. Anh nằm như thế không biết bao lâu cho đến lúc đồng hồ Oét-min-tơ thong thả đổ chuông rồi gõ ch*n tiếng. Bỗng nhiên Hai Vĩnh thấy tỉnh táo, minh mẫn hơn bao giờ hết. Cuộc sống trần tục trở lại với anh:

“Ng*y mai mình sẽ tiếp tục kéo c*y. Ôi chao, chán l*m sao cái kiếp l*m công trong cái nh* máy tối tăm bụi bặm! V* không còn gặp lại ‘cố nhân’ mỗi tháng một lần v*o ng*y nước rong để an ủi kiếp sống cô đơn!”.


H*t tô-phe không phân biệt nam nữ


Duyên Anh cũng đã từng viết trong S*i Gòn ng*y d*i nhất : “Thuốc phiện lâu say m* say lâu. V* hễ say, dao kề cổ vẫn tỉnh bơ, bởi chẳng còn ý thức nổi không gian, thời gian, nói chi sự việc quanh mình. Dẫu mắt vẫn mở. Mắt mở không phải l* thức. Dù mắt nhắm. Mắt nhắm không phải l* ngủ… Giá tôi được chết say thuốc phiện, tôi sẽ hoan hỉ vô cùng. Tôi sẽ vượt khỏi sợ hãi chờ chết”.

Theo nh* văn Ho*ng Hải Thủy, một đệ t* trung th*nh trong ‘l*ng bẹp’, nổi tiếng tại S*i Gòn có tiệm Amy ở đường Verdun – về sau l* đường H*m Nghi. Tiệm Amy nằm trong dẫy nh* m* mười mấy năm về sau tòa nh* Việt Nam Thương t*n được xây dựng. Ngo*i ra còn phải kể đến tiệm hút d’Ormay ở đường d’Ormay, sau n*y l* đường Nguyễn Văn Thinh, ngay sát đường Catinat, từ Hotel Continental đến tiệm hút d’Ormay chỉ có mấy bước.

Tiệm hút d’Ormay đã được Graham Green mô tả trong tiểu thuyết The Quiet American. Sau n*y, Graham Green viết Ways of Escape, một loại hồi ức văn chương, qua đó người đọc biết ông có mang về Anh một cái dọc tẩu ‘h*t tô phe’ như l* một kỷ v*t của chủ tiệm người T*u, rất thân thiết, trên đường Catinat. ‘Cây g*y thiêng liêng’ đó còn nằm trên một cái dĩa tại căn phòng của Greene, ở Albany. Tuy có bị sứt mẻ vì thời gian vẫn được ông coi l* một ‘kỷ v*t’ của những ng*y hạnh phúc tại Việt Nam.


Dọc tẩu hay ‘cây g*y thiêng liêng’


Vũ Trọng Phụng trong Vỡ Đê đã để nhân v*t tên Khoái nói một câu… ‘để đời’: “Người Việt Nam ở Thế kỷ Hai Mươi n*y m* lại không hút thì còn ra cái thể thống chó gì nữa”. Xin nói cho rõ hơn, hút ở đây không phải l* hút thuốc m* l* hút… thuốc phiện!

Vũ Ho*ng Chương, một đệ t* trung th*nh của thuốc phiện, đã có những câu thơ ‘xuất thần’ từ l*n khói thuốc trong b*i thơ Quên:

Hãy buông lại gần đây l*n tóc rối,
Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
Rồi Em sẽ dìu Anh trên cánh khói
Đưa hồn say về t*n cuối trời Quên



“Rồi Em sẽ dìu Anh trên cánh khói”


Hồi đó, người có tiền đều có b*n đèn dầu lạc ngay tại nh* nhưng thỉnh thoảng các ông ‘l*ng bẹp’ cũng đến tiệm nằm chơi, đấu hót với các ông bạn. Cũng cần nói thêm, dân hút thuốc phiện được gọi l* thuộc ‘l*ng bẹp’ vì cái tai họ bị bẹp d* do nằm hút lâu năm. Ngo*i ra, thuốc phiện còn được nhân cách hóa l* N*ng Tiên Nâu, Ả Phù Dung hay Cô Ba Phù Dung vì có sức quyến rũ của một người phụ nữ đa tình.


N*ng Tiên Nâu, Ả Phù Dung hay Cô Ba Phù Dung
(Tranh của Cécile Paul-Baudry)


Lúc còn ở khu vực Lăng Cha Cả, tôi đã có một thời gian d*i phải ng*i khói thuốc phiện từ căn nh* ph*a dưới của ông Khang, nghe người ta gọi l* ông giáo Khang. Ông giáo về hưu có b*n đèn đặt ngay trong nh* v* mỗi lần ông hút l* mùi khói thuốc phiện tỏa lên căn gác tôi ở ngay ph*a trên.

Suốt bao nhiêu năm trời l* h*ng xóm rất gần với người hút thuốc phiện nhưng quả th*t tôi chưa một lần chứng kiến cảnh ông giáo Khang nằm phê thuốc phiện. Ông chỉ hút khi đã đóng k*n c*a, thế nhưng mùi ngai ngái của khói thuốc vẫn lan tỏa khắp chung quanh.

Gia đình ông Khang, người Bắc di cư năm 1954, cũng l* một điển hình một gia đình ‘tứ đổ tường’: ông chồng thì hút sách, b* vợ thì mê đánh chắn v* 3 cô con gái thì khoái ‘đ*u chến’ tứ sắc. Còn chuyện ‘trai gái’ của 3 cô – Hồng, Điệp v* Hằng – chắc chắn cũng phải ly kỳ vì không thấy chồng đâu m* cô Hồng, chị cả, có tới 2 đứa con gái, cô em cũng có 2 con v* cô út tên Hằng cũng có một đứa con trai.


Thế giới ma quái của thuốc phiện
(Tranh của A. Matignon)


Người ta nói con thằn lằn trong phòng của người hút thuốc phiện cũng bị ghiền vì h*t khói thuốc. Cũng may, gia đình tôi không ai bị ảnh hưởng từ khói thuốc phiện của ông giáo Khang như chuyện con thằn lằn. Thêm một điều may mắn l* khi đi khỏi xóm Bùi Thị Xuân thuộc khu Lăng Cha Cả, các con tôi đã không bị những tác động tiêu cực từ gia đình ông giáo Khang!

Thế mới biết, các cụ thường nói, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, chưa chắc đã đúng. Trong trường hợp của tôi, có lẽ câu ‘gần bùn m* chẳng hôi tanh mùi bùn’ l* đúng hơn cả!

S*i Gòn tứ đổ tường: trai gái

Đây l* b*i viết thứ 2 trong loạt 4 b*i về tứ đổ tường của S*i Gòn xưa. Trong số 4 món ăn chơi - yên (thuốc phiện), đổ (cờ bạc), t*u (rượu chè), sắc (trai gái) - chuyện trai gái nói chung l* hình thức phổ biến nhất vì hầu như ai cũng có d*nh dáng đến. B*i viết n*y không đề c*p đến chuyện thường tình đó m* chỉ xoáy quanh giới kỹ nữ dưới nhiều tên gọi như ả đ*o, gái nhẩy hay nói một cách nôm na l* gái đĩ, chị em ta…

Người T*u gọi các cô l*m nghề xướng ca l* kỹ nữ. Kỹ nữ nguyên nghĩa chỉ l* người con gái l*m nghề ca xướng, múa hát. Có lẽ chữ ‘kỹ’ của tiếng Hán được ta đọc th*nh đĩ (?). Kỹ nữ của T*u trở th*nh ‘Con Đĩ’ của ta. Nếu đúng như v*y thì ‘kỹ nữ’ v* ‘con đĩ’ l* hai chị em ruột! Tuy nhiên, con đĩ ng*y xưa chỉ có nghĩa l* người con gái l*m nghề hát xướng chứ không phải l* con đĩ l*m nghề mại dâm như ng*y nay!

Theo Phan Kế B*nh trong Việt Nam phong tục do nh* xuất bản Tổng Hợp Đồng Tháp (1990): “Xưa kia, trước khi l*ng mở hội cho mọi người vui chơi thì các vị chức sắc phải tổ chức tế lễ ngo*i đình. Có rước phụng nghênh hồi đình (rước long kiệu từ miếu về đình) rất long trọng. Nghi trượng gồm n*o cờ quạt, voi ngựa, n*o bát b*u, cờ biển. Rồi đến phường đồng văn đánh trống, gõ thanh la, theo sau l* mấy người con gái, đôi khi l* con trai giả gái, vừa vỗ trống vừa múa hát gọi l* ‘con đĩ đánh bồng’. Theo sau con đĩ đánh bồng l* cờ v*a, lọng v*ng, lệnh kiếm, phường bát âm, long đình, kiệu thánh... v* sau cùng l* bô lão, chức sắc của l*ng”.

Nếu như v*y thì vai trò của ‘con đĩ đánh bồng’ ng*y xưa cũng không có gì l* tệ lắm, được múa hát diễn h*nh trước cả long đình, kiệu thánh, các bô lão v* chức sắc của l*ng. Chỉ múa hát thôi thì chẳng có gì l* xấu, có xấu chăng l* kể từ ng*y các con đĩ bị giới trưởng giả, mấy ông tr* thức mời về nh*… ‘hát riêng cho nhau nghe’. Ch*nh những vị tai mắt, khoa bảng, đã mở đường hoặc tiếp tay l*m biến chất, l*m hư các con đĩ.

Khoảng th*p niên 1930, chỉ riêng H* Nội có khoảng 5 nghìn phụ nữ sống bằng nghề mại dâm, chưa kể đến những ‘ả đ*o’ v* ‘gái nhảy’ thuộc các vùng ngoại ô. Dân số nội th*nh H* Nội thời đó khoảng 18 đến 20.000 người, nghĩa l* bình quân cứ 35 người lương thiện lại có một người… l*m đĩ (Theo t*i liệu của Vũ Trọng Phụng).

Năm 1936, nh* văn Vũ Trọng Phụng viết hẳn một thiên tiểu thuyết tả chân, gi*t một cái t*t th*t ‘sốc’: L*m Đĩ để biện minh cho quan niệm của ông: “… Cái dâm tự nó không xấu, m* nó còn l* cái điều cao thượng đẹp đẽ v* linh thiêng vô cùng, vì nhờ nó m* lo*i người không tiêu diệt, nhờ nó m* có chúng ta đây. Tác giả xin để Freud, Goethe, Schilles, Yên Đổ, Nguyễn Công Trứ, cắt nghĩa cho các ng*i nghe rằng sự dâm có điều bẩn thỉu không đáng nói đến chăng, tưởng đã đủ…”


Tác phẩm L*m Đĩ của Vũ Trọng Phụng

Một năm sau L*m Đĩ, Vũ Trọng Phụng cho ra đời một phóng sự lấy tên l* Lục Xì để viết về một ‘ngục tù ghê gớm’, đó l* nơi các bệnh phong tình như l*u, giang mai của gái đĩ được điều trị. Theo lời trần tình của ông, “… tôi không phải chỉ l* một nh* văn, nhưng còn l* một nh* báo. Nh* báo thì phải nói sự th*t cho mọi người biết. Nếu một việc đã có thực thì bổn ph*n của tôi chỉ l* thông báo cho mọi người biết chứ không phải l* lo sợ rằng cái việc l*m ph*n sự ấy lợi hại cho ai…”.

Cũng cần phải nói thêm, theo Vũ Trọng Phụng, “… ‘Lục Xì’ l* ở chữ Luck sir [sic], một động từ hồng mao [Thời của VTP nước Anh được gọi l* Hồng Mao với ý nghĩa l* tóc đỏ - chú th*ch của NNC]. Luck sir l* khám bệnh. Hẳn trong số những ông thầy thuốc trông nom phúc đường [nh* thương th* – chú th*ch của NNC] từ xưa kia, đã có một ông hay bông đùa, hay dùng tiếng hồng mao trong khi đáng lẽ phãi dùng tiếng Pháp. Tôi tưởng cái do thế thì cái tiếng cái nh* lục xì (cai nha loock see) mới phổ c*p trong dân chúng An Nam như thế…”.

Tôi không đồng quan điểm với tác giả về việc giải th*ch nguồn gốc của Lục Xì từ ‘Luck sir’ ở câu đầu rồi sau lại l* ‘Loock see’ ở câu tr*ch dẫn. V*o thời đó, dĩ nhiên l* trình độ tiếng Anh của tác giả có phần hạn chế nên viết l* ‘luck sir’ (ho*n to*n vô nghĩa) hoặc ‘loock see’ (sai về ch*nh tả). Phải chăng, Lục Xì xuất xứ từ ‘look (and) see’?

Tiện đây cũng xin kể một chuyện tiếu lâm về cái thời người Việt chân ướt chân ráo tị nạn tại Hoa Kỳ. Có một ông khá lớn tuổi bị bệnh trĩ kinh niên đến phòng mạch một bác sĩ người bản xứ. Vốn tiếng Anh của ông chỉ đếm được trên đầu ngón tay thì l*m sao khai bệnh với bác sĩ. Ông nghĩ ra một cách khai bệnh thực tế nhất l* tụt quần rồi chổng mông trước mặt bác sĩ kèm theo câu: “I don’t know but look…”.

Bác sĩ Pháp khám bệnh cho gái mãi dâm người Việt trong Lục xì của Vũ Trọng Phụng ng*y xưa chắc cũng na ná như trường hợp của ông bị bệnh trĩ khai bệnh với bác sĩ người Mỹ ng*y nay (?)!!!.


***

Nhu cầu giải quyết sinh lý l* một thực tế cho nên S*i Gòn xưa, cũng như hầu hết các th*nh phố lớn trên thế giới, đều phải giải quyết bằng hình thức n*y hay hình thức khác. Ở Amsterdam (thủ đô của Hòa Lan) du khách có thể đến Rosse Buurt (Khu đèn đỏ) để thấy khẩu hiệu Make sex not guns được thực hiện một cách công khai trên đường phố. Mặt tiền của các sex house l* những khung c*a k*nh bên trong có những kiều nữ bầy h*ng để khách tha hồ chọn lựa!


Khu đèn đỏ tại Amsterdam


Gần S*i Gòn hơn l* th*nh phố Bangkok của Thái Lan. Những khu Patbong hay Soi Cowboy cũng có những cô gái trong lồng k*nh nhưng khác với Amsterdam họ không ‘bầy h*ng’ ngo*i c*a m* phải v*o bên trong mới thấy. Tuy nhiên, Thái Lan lại vượt trội Hòa Lan với những sex show theo ‘thực đơn’ m* những nh* đạo đức sẽ phải rùng mình.

Xin kể ra v*i ‘món ăn chơi’ của Patbong: nhét quả bóng b*n v*o c*a mình (pussy ping-pong), dùng ‘cái ấy’ để khui nút chai (pussy open the bottle)… rồi pussy thổi tắt ngọn nến, nuốt dao cạo, cắt trái chuối. Dưới đây l* bức ảnh liệt kê 18 m*n sexy show tại Patbong:


Thực đơn 18 món ăn chơi tại Patbong, Bangkok


***

Ngay từ đầu những năm 1950, S*i Gòn đã có những nh* chứa gái mãi dâm, được gọi một cách nhẹ nh*ng v* hoa mỹ l* Bình Khang. Tưởng cũng nên nhắc về xuất xứ của cái tên Bình Khang. Theo sách vở, Bình Khang l* nơi h*nh nghề của của các kỹ nữ, hình như có xuất xứ từ một phường ở kinh th*nh Trường An, đời Đường bên T*u.

Theo từ điển mở Wiktionary: “Th*nh Trường An có phường Bình Khang l* nơi ở của các kỹ nữ.. H*ng năm các tân khoa tấn sĩ đến đó chơi.. Phường Bình Khang ở gần c*a Bắc nên cũng gọi l* Bắc Lý”. N*ng Kiều của Nguyễn Du cũng đã từng lưu lạc trong thời ‘buôn phấn bán hương’: “Bình Khang nấn ná bấy lâu…

Mặt khác, Bình Khang, theo Xứ trầm hương của Quách Tuấn, lại l* một địa danh thuần Việt: “Năm Quý Tỵ (1653) vua Chiêm Th*nh l* B* Tranh đem quân sang cướp phá đất Phú Yên. Chúa Hiền l* Nguyễn Phúc Tần sai Hùng Lộc c* binh v*o đánh dẹp. B* Tranh đại bại, dâng thư xin h*ng. Chúa để phần đất từ sông Phiên Lang tức Phan Rang, trở v*o cho vua Chiêm, còn từ Phiên Lang trở ra đến Phú Yên thì chiếm cứ, l*p ra hai phủ l* Diên Ninh v* Thái Khang, v* 5 huyện l* Phước Điền, Hòa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh, v* Tân Định, Quảng Đức thuộc phủ Thái Khang.

Hùng Lộc được bổ l*m Thái Thú cai trị hai phủ. Dinh đóng tại Thái Khang. Năm Canh Ngọ (1690), chúa Nguyễn l* Nguyễn Phúc Trăn đổi tên phủ Thái Khang ra Bình Khang. V* năm Nhâm Tuất (1742) chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên Diên Ninh th*nh Diên Khánh”.

Như v*y, Bình Khang l* một địa danh xuất hiện trong lịch s* Việt Nam từ năm 1690 nhưng đến th*p niên 50, khi nói đến Bình Khang người ta chỉ liên tưởng đến ‘khu chơi bời’ ở đường Vĩnh Viễn do lực lượng Bình Xuyên điều h*nh v* quản lý. Đây l* một cư xá hẳn hoi, đầy đủ tiện nghi theo tiêu chuẩn thời đó, khang trang, sáng sủa, sạch sẽ, ‘điện nước đầy đủ’ (Xin hiểu theo cả nghĩa đen v* nghĩa bóng).

Tất cả những nh* chơi bời ngo*i th*nh phố đều phải v*o mướn nh* trong Bình Khang, đưa “chị em ta” v*o đó h*nh nghề dưới sự kiểm soát của nhân viên y tế nh* nước. Việc mở nh* thổ ngo*i phạm vi Bình Khang bị coi l* phạm pháp, chủ nh* bị bắt, bị ra tòa v*… ‘ủ tờ’.

Có thể nói, dịch vụ mại mãi dâm ở th*nh phố S*i Gòn ng*y đó trở nên ‘văn minh v* lịch sự’ (?). Tuy nhiên, dù có Bình Khang, S*i Gòn cũng không thể n*o diệt được bệnh hoa liễu như Vũ Trọng Phụng đã từng viết từ năm 1937: “Ai cũng biết rằng khi một dân tộc c*ng tiếp xúc với những dân tộc khác, hoặc vì thương mại, hoặc bị xâm chiếm, thì dân tộc ấy c*ng dễ bị nạn hoa liễu hoặc những bệnh truyền nhiễm khác…”.

Tác giả Lục Xì đưa ra những con số thống kê đáng lưu ý:

Năm 1914, bẩy mươi tư phần trăm (74%) binh l*nh Pháp ở Bắc Kỳ mắc phải bệnh hoa liễu. Bác sĩ Keller coi nh* thương đau mắt H* Nội cam đoan với ta rằng trong số những người chột v* mù của dân mình, bảy mươi phần trăm (70%) l* do vi trùng bệnh l*u m* ra.

Ông Giám đốc Phòng vệ sinh của th*nh phố H* Nội cũng bảo cho ta biết rằng cứ bốn nghìn trẻ con mới đẻ m* chết thì trung bình có chừng một nghìn đứa trẻ, theo lối nói kiêng của người mình thì l* ‘s*i’, ‘đẹn’, l* ‘bỏ’, l* ‘mất’, l* ‘khó nuôi’, nhưng nói theo khoa học thì chết vì bố mẹ có nọc bệnh giang mai, hoặc l* biến chứng của bệnh ấy”.


Tác phẩm Lục Xì của Vũ Trọng Phụng


Tại S*i Gòn năm 1954, khu vực bến xe Petrus Ký (ng*y nay thuộc đường Lê Hồng Phong) nổi tiếng có xóm Bình Khang – Cây Điệp hay còn gọi l* khu Bata (nay thuộc khu phố 1, phường 2, qu*n 10). Nơi đây dân tứ xứ đổ về l*m nh* cư trú, sống bám v*o bến xe liên tỉnh Pétrus Ký để buôn bán v* l*m các dịch vụ nhỏ lẻ. Do có nhiều con hẻm bé x*u, đan xen chằng chịt trong khu vực dân cư, nên một phần dân cư đến đây sinh sống bằng nghề mại dâm.

Hoạt động mua, bán dâm rầm rộ cả ng*y lẫn đêm. Dân bảo kê, anh chị giang hồ tranh địa b*n, gi*nh gái, đánh nhau như cơm bữa. Cờ bạc, rượu chè, mua bán, hút ch*ch ma túy, trộm cắp, cướp gi*t cũng l* một trong số các tệ nạn góp phần l*m cho khu Cây Điệp nổi danh trong giới giang hồ.

Địa thế ngoằn ngoèo, nhiều con hẻm chỉ đủ cho một chiếc xe máy đi qua sâu hun hút, liên thông như một tr*n đồ bát quái, ch*nh l* điểm thu*n lợi để các chủ chứa h*nh nghề mại dâm. Các dịch vụ ‘ăn theo’ mọc lên như nấm. Khách l*ng chơi n*o không sòng phẳng sẽ rất khó tìm đường thoát thân...

Sau sự tan rã của ‘khu liên hợp ăn chơi’ Đại thế giới do nhóm Bảy Viễn cầm đầu, những đ*n em chuyên tổ chức, bảo kê mại dâm, cờ bạc của Bảy Viễn v* số gái mại dâm bị đẩy ra khỏi lầu xanh, động chứa đã tụ t*p về đây h*nh nghề. Từ đó, nhiều thế hệ nối tiếp sống bằng nghề ‘kinh doanh’ mại dâm.

Tệ nạn mại dâm phát triển mạnh đến nỗi khóm Bình Khang - Cây Điệp với nhiều động, ổ nổi tiếng được giới giang hồ so sánh “nhất Nancy, nhì Cây Điệp”. Hoạt động mại dâm phát triển đến mức được coi như một hoạt động kinh doanh dịch vụ ‘nổi đình, nổi đám’ thời ấy.

Theo t*i liệu xưa, quanh khu Bata có khoảng 100 hộ chứa gái chuyên nghiệp, mấy chục hộ l*m dịch vụ ‘ăn theo’ mại dâm như: bảo vệ, dẫn mối, ch*ch thuốc, cho thuê tắm giặt, ăn uống, son phấn, cho vay lãi... thu hút h*ng trăm người vây quanh hoạt động mại dâm. Nhiều gia đình, tộc họ đều l*m nghề mại dâm. Một số cảnh sát biến chất cũng tham gia ‘bảo kê’ cho các hoạt động n*y.

Phần lớn các con hẻm xung quanh khu vực n*y đầy tai tiếng nhưng cũng không *t chiến t*ch. Nhiều người ác miệng còn gọi những cái tên nghe ‘nổi da g*’ l* hẻm thịt sống hay hẻm đĩ. Bất kể ng*y đêm, khách l*ng chơi bước v*o đầu hẻm đã được đội quân ma cô, bảo kê tiếp dẫn rất nhiệt tình. Họ được đưa đến một trong những ‘động’ có tiếng nơi đây.

H*ng trăm cô gái, đủ lứa tuổi, lòe loẹt phấn son, áo váy hở hang, đứng ngồi ngả ngớn, ch*o mời với giá rẻ bất ngờ. Tuy nhiên, phần lớn gái mại dâm l*m suốt đời vẫn nợ nần chồng chất vì bị bóc lột quá sức v* do có nhiều th*nh phần ăn bám v*o họ. Mỗi chủ chứa đều thuê mướn một đội ngũ bảo kê cho quán. Dân bảo kê với thân hình đầy vết xăm vằn vện vừa canh gác ở các đầu con hẻm để theo dõi tình hình, vừa tr*n ra đường chèo kéo khách l*ng chơi.


Những kiều nữ trên đường phố S*i Gòn xưa


Chủ chứa nổi tiếng thời ấy v* có máu mặt l* b* Hai Huê. B* nắm trong tay khoảng 20 gái mại dâm. Con trai b* cũng trở th*nh bảo kê. Do tranh gi*nh địa b*n, con b* đã từng v*o tù về tội ‘cố ý gây thương t*ch’. B* Hai Hòa cũng l* một chủ chứa có chút tiếng tăm tại khu vực n*y. Có hai người con thì một đứa bị nghiện xì ke đến chết, đứa còn lại đi tù về tội cướp gi*t t*i sản.

Chủ chứa Sáu Lủng cũng tỏ ra rất gan lì. Mỗi lần bị bắt l* b* ta ‘thoát y’ nằm ăn vạ, khiến cảnh sát nhiều phen đổ mồ hôi hột. Gia đình b* rất đông anh em, nhưng phần lớn đều chết vì ma túy. Ngo*i ra còn có một số chủ chứa nổi danh khác như: Long Ba Nhỏ, b* Mai, ông Cồ, Tuấn đầu bò...

Những nh* chứa thời ấy đều l* những khu nh* x*p xệ, nhếch nhác, lụp xụp, dơ bẩn, chỉ cần bước tới đầu con hẻm đã ng*i thấy mùi ẩm mốc, tanh tưởi. Mại dâm hoạt động không kể giờ giấc, suốt ng*y suốt đêm. Nơi đây nổi tiếng đến nỗi dân l*ng chơi S*i Gòn hầu như đều biết, khách ra v*o tấp n*p, dù địa thế ngoằn ngoèo, nhiều hẻm thông nhau như một tr*n đồ bát quái.

Phần lớn gái khắp nơi đổ về đây h*nh nghề mại dâm. Những ông khách l*ng chơi v*o đây, nếu tiền bạc không sòng phẳng thì bị đám bảo kê đánh đ*p, trấn lột sạch sẽ. Khi không có đủ tiền trả, ‘thượng đế’ sẽ bị ăn đòn hội chợ trước khi tìm được lối ra giữa các con hẻm chằng chịt.

***

Người phụ nữ một khi đã lạc chân bước v*o ‘nghề không vốn’ l* cả một bi kịch trong bất kỳ một thời đại n*o. Trong truyện Kiều của Nguyễn Du, Thúy Kiều đã lạc bước v*o lầu xanh dưới b*n tay phù thủy của mụ Tú B*:

Dưới trần mấy mặt l*ng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa
Nước vỏ lựu, máu m*o g*
Mượn m*n chiêu t*p lại l* còn nguyên

Thân ph*n của n*ng Kiều, hay cũng l* thân ph*n của những phụ nữ buôn phấn bán hương của mọi thời đại được gói trọn trong những dòng thơ nuối tiếc của Nguyễn Du đối với những số ph*n đa truân:

Tiếc thay một đóa tr* mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương
Reply With Quote
  #8  
Old 03-05-2011, 03:58 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

S*i Gòn tứ đổ tường: cờ bạc

Đa số người Việt, đặc biệt l* người S*i Gòn xưa, thường có trong mình dòng máu ‘đỏ đen’ của thần đổ bác. Ng*y xưa, các cụ thường ngồi ‘xoa’ mạt chược, chơi tổ tôm, đánh chắn hoặc chơi tam cúc. Rồi văn minh hơn với bộ b*i tây 52 quân dùng để chơi xì phé, xì dzách, xì-lác, các-tê sang đến binh x*p-xám.

Có một dạo, người ta đánh bạc ngay tại ngo*i đường: đánh cá bảng số xe chạy qua trước mặt với tổng số cao nhất l* 9 nút v* thấp nhấp l* ‘bù’ (10 nút). Ngay cả những hiện tượng như mưa nắng trong ng*y, dân Chợ Lớn cũng có thể cá cược ăn tiền với nhau.

Theo tôi, xổ số cũng l* một hình thức cờ bạc mặc dù trên danh nghĩa ‘từ thiện’ như Trần Văn Trạch ng*y n*o vẫn thường hát: “Kiến thiết quốc gia, giúp đồng b*o ta, xây đắp bao người, dựng nên c*a nh*… Triệu phú đến nơi, chỉ mười đồng thôi, mua lấy xe nh*, gi*u sang mấy hồi…”.

Vé số

Từ xổ số lại biến thể sang số đề, đây l* hình thức cờ bạc rõ nét nhất. Trước năm 1954, ở S*i Gòn - Chợ Lớn, có hai chỗ đánh bạc rất nổi tiếng, đó l* các sòng Kim Chung (Casino Cloche d'Or) v* sòng Đại Thế Giới (Casino Grande Monde). Trong số các trò chơi đỏ đen đó, có một trò gọi l* Xổ số đề, tức l* xổ các cặp số đã được đề trên các tấm vé.

Mỗi vé có hai con số, từ 00 đến 99. Cứ sau khi bán hết một đợt vé người ta lại "xổ", có nghĩa l* bắt thăm xem vé n*o trúng v* nếu trúng thì một đồng ăn bảy mươi đồng. Như v*y l* ban tổ chức (nh* thầu hay nói khác đi l* nh* cái) thu lợi 30% mỗi lần xổ. Giả s* mỗi vé ghi giá 1 đồng thì thu được 100 đồng, nh* cái chỉ phải trả 70 đồng cho người trúng v* thu về 30 đồng tiền lời.

Khi thông báo số trúng, để tăng thêm phần hấp dẫn, người ta treo những tấm bảng th*t lớn đã cuộn tròn sẵn giống như những cuộn lịch, treo th*t cao trên các cây cột để mọi người nhìn thấy. Chẳng hạn, xổ ra số 35 trúng, họ hô lên trên loa bằng cả tiếng T*u lẫn tiếng Việt: "X*p Xám Ửng... Ba Mươi Lăm...". Lúc đó, một người ở trên cao dùng kéo cắt hoặc đốt sợi dây cột tấm bảng mang số 35, dưới hai con số đó có kèm theo hình vẽ một con dê đực, hai sừng cong lên cùng với chòm râu dê!

Vì sao có hình vẽ con dê? Một số người giải th*ch vì người Hoa thời đó *t người đọc được các con số dùng trong tiếng Việt, m* dân cờ bạc người Việt cũng có nhiều người dốt, chữ cắn l*m đôi cũng không biết. Do v*y, người ta cẩn th*n kèm theo mỗi con số l* một hình vẽ, để ai muốn coi số cũng được m* coi hình cũng được.

V* dụ: số 35 họ vẽ con dê, số 09 họ vẽ con cá lớn, số 11 họ vẽ con cá nhỏ, số 14 vẽ con chó, số 16 vẽ con bướm, v.v... Trong các chiếc vé cũng vẽ như v*y. Đây chỉ l* những hình vẽ vô tình, dùng lâu th*nh quen v*y thôi, chứ giữa con số 35 v* con dê không có liên quan gì đến nhau cả. Có thể cũng vì lẽ đó, kho t*ng ngôn ngữ của người S*i Gòn về sau có th*nh ngữ “35 dê” để chỉ người đ*n ông ưa tán tỉnh phụ nữ?

Kim Chung v* Đại thế giới đều có Xổ Đề mỗi ng*y. Cứ mỗi chiều v*o khoảng bốn, năm giờ, tuy kết quả xổ đề không được thông báo trên đ*i phát thanh nhưng chỉ độ n*a giờ sau khi đề xổ, người dân to*n th*nh phố đã biết đ*ch xác đề xổ con n*o qua ‘đ*i phát thanh truyền miệng’. Đề vừa xổ, chỉ cần hai, ba ông đạp x*ch lô đi ngang l* cả một đường phố d*i, kể cả những khu lao động trong các hẻm, đều đồng loạt biết hai con gì được xổ trong ng*y.

Ng*y nay, số đề dựa theo kết quả của xổ số v* hầu như tỉnh n*o cũng phát h*nh vé số nên người ta có cảm tưởng cả nước đang đắm chìm theo thần đổ bác, quanh năm 365 ng*y! Cứ v*o giấc chiều, gần tới giờ xổ số, tại một số đại lý hay các quầy bán vé số dọc lề đường thường t*p trung rất đông người. Kẻ đứng, người ngồi, xe dựng trên lề có khi lan ra cả lòng đường gây trở ngại giao thông. Ai có trách, mặc kệ! Xe cộ có bóp còi, họ cũng chẳng quan tâm. Bởi lúc ấy, họ chỉ t*p trung v*o kết quả... xổ số!

Có thể nói, với dân đã ‘l*m’ số đề, bất cứ mọi giấc mơ, mọi sự việc, mọi h*nh động trong sinh hoạt thường nh*t, đều có thể… ‘số hóa’, không chỉ một m* có khi còn suy ra cả chục con số để đánh đề. Thấy tai nạn giao thông trên đường vội ghi số... xe để đánh đề, gặp hỏa hoạn, cháy nổ hay các vụ việc có liên quan tới l*a thì đánh đề số 27 - 67…

Số đề chỉ l* một hình thức cờ bạc ‘tép riu’ trong khu Đại Thế Giới, tên Tây l* Casino Grande Monde, một trong những sòng bạc lớn nhất Đông Dương trong thế kỷ 20 do người Pháp l*p ra v*o năm 1937. Mãi đến năm 1955 mới bị đóng c*a dưới thời Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Trước khi Đại Thế Giới xuất hiện, người Tầu thao túng việc b*i bạc tại khu vực Chợ Lớn. Để gi*nh lại mối lợi n*y, ch*nh quyền Pháp tại Nam Kỳ đứng ra bảo trợ v* th*nh l*p sòng bạc Đại Thế Giới nhằm thu hút các con bạc khắp khu vực Saigon-Cholon. H*ng năm ch*nh quyền bảo hộ thu được nguồn thuế rất lớn từ sòng bạc n*y. Ngo*i b*i bạc, Đại Thế Giới còn l* tụ điểm ăn chơi, hút sách, trai gái nổi tiếng khắp cả nước thời Pháp thuộc.

Đại Thế Giới được người Pháp ch*nh thức cho th*nh l*p với các lý do: th* cho cờ bạc công khai, có lấy thuế, còn hơn để kiểu cờ bạc lén lút nhưng tr*n lan vừa thất thu thuế, vừa xúc phạm đến quyền lực của ch*nh phủ bảo hộ Pháp. Đồng lúc th*nh l*p Đại Thế Giới còn có sòng bạc Kim Chung ở khu vực Cầu Muối (nay l* Khu Dân Sinh, phường Cầu Ông Lãnh, Qu*n 1). Kim Chung có qui mô kém hơn, đối tượng chơi thuộc loại bình dân, nên mỗi khi nhắc tới casino tiêu biểu của Saigon, người ta hay nói đến Đại Thế Giới.

Đường Đồng Khánh, nơi tọa lạc Casino Grand Monde

Sau 1975, đã có một thời gian tôi ở tại đường H*m T*, Qu*n 5, nơi chỉ cách Đại Thế Giới ng*y xưa chừng v*i phút đi bộ. Tôi thường dẫn các cháu ngoại đến Trung tâm Văn hóa Qu*n 5 (số 105 Trần Hưng Đạo B, phường 6) để chơi các trò ‘thú nhún’ (trẻ con ngồi trên những con thú có lò so nhún nhảy khi khởi động bằng điện). Tại đây còn có công viên nước mang một cái tên gợi nhớ: Đại Thế Giới.

Đại Thế Giới ng*y xưa nằm trên đường Gallieni chiếm một khuôn viên rộng lớn của Trung tâm Văn hóa ng*y nay. Khu đất rộng mênh mông, vòng r*o xây tường cao, c*a ra v*o có bảo vệ mặc đồng phục canh gác cẩn m*t. Người ta ra v*o tự do, nhưng không phải ai cũng mạnh dạn bước v*o, bởi muốn bước v*o phải có tiền v* bởi cái 'Sát Kh*' của Thần Đỏ Đen luôn vừa quyến rũ thiên hạ, lại vừa hù dọa mọi người.

Trên cổng lớn sáng rực ánh đèn néon, h*ng chữ Grande Monde như một lời xác nh*n với mọi người dân S*i Gòn thời đó rằng nơi đây l* sòng bạc được nh* nước bảo trợ, cứ mặc tình m* sát phạt. Giấy phép hoạt động l* của nh* nước bảo hộ cấp, nhưng sòng bạc lại do tư nhân điều h*nh.

Ngay từ đầu khai trương, chủ thầu l* một tay đầu n*u casino, Lâm Giống, từ Hồng Kông đến. Sở dĩ người Pháp cho các tay Hồng Kông trúng thầu vì họ hiểu rằng, chỉ những người từng am tường về tổ chức sòng bạc tầm cỡ thì mới có khả năng đưa Đại Thế Giới lên ngang tầm với các sòng bạc ở Á Châu.

Lâm Giống vốn xuất thân từ các sòng bạc ở Macau, đã s*nh sỏi về tổ chức casino, do đó ông ta đã r*p khuôn từ mọi hình thức đến mọi mánh khóe. Cùng kéo sang ‘miền đất hứa’ S*i Gòn với chủ còn có những cô ‘hồ lì’, người đứng điều khiển cuộc chơi của từng môn đỏ đen, theo cách gọi của người Trung Hoa. ‘Hồ lì’ lúc n*o cũng xinh đẹp v* s*nh điệu, thừa sức l*m vui lòng khách chơi, dù có bị thua cháy túi.

Ngay từ lúc mới mở c*a, Đại Thế Giới đã thu hút ngay số khách đỏ đen ở mức kỷ lục: những tuần lễ đầu có đến h*ng ng*n người tới th* thời v*n mỗi ng*y, nh* chứa bạc thu vô không dưới một triệu đồng (một triệu đồng bạc Đông Dương hồi đó hết sức lớn, bằng bạc tỷ bây giờ). Tiền thuế nộp cho nh* nước cũng không *t, từ 200.000 sau lên 300.000 v* có lúc lên đến 500.000 đồng một ng*y. Thế m* chủ chứa vẫn hốt bạc nhiều hơn bất cứ ng*nh kinh doanh n*o khác.

Khách chơi lúc đầu còn giới hạn trong giới trung lưu, đến người nhiều tiền, lần hồi thu hút tới những giới bình dân, cả phu kéo xe, phu bốc vác bến t*u, vì có đủ hình thức chơi, từ hốt me, t*i xỉu, đến ru-lét… Người chơi không cần phải động não nhiều, v* cũng không cần có nhiều vốn. Nhiều thua nhiều, *t thua *t, chỉ không đánh mới không thua! V*y m* Đại Thế Giới như có bùa, như ma túy gây nghiện, nó có thứ ma lực lạ lùng c*ng lúc c*ng lôi cuốn người S*i Gòn như con thiêu thân trước ánh đèn.

Đã xảy ra nhiều cuộc chiến từ Đại thế giới. Cuộc chiến giữa khách chơi v* nh* cái, cuộc chiến giữa bản thân người chơi v* gia đình họ, v* cuộc chiến cực kỳ quyết liệt giữa những thế lực để gi*nh quyền chi phối sòng bạc.

Từ ng*y Đại Thế Giới mở ra, đã có không biết bao nhiêu thảm cảnh gia đình. Có người l* công chức cấp cao của nh* nước, gi*u sang tột bực, v*y m* chỉ trong v*i tuần ‘l*m quen’ với Grand Monde đã nướng hết sản nghiệp v*o đó, v* tất nhiên l* nướng cả cuộc đời. Có những người vợ, những cô n*y b* nọ, chỉ vì ham vui, v*o th* v*i lần rồi bắt bén v*o tiếp v*..... cuối cùng lột hết vòng v*ng nữ trang, lấy cắp cả tiền nh*, cúng sạch, v* sau đó cũng cúng luôn cả cái ng*n v*ng của mình! Thời đó cầu Bình Lợi được xem l* nơi kết liễu những cuộc đời bất hạnh, sau một đêm cháy túi ở Đại Thế Giới....

Cả S*i Gòn v* vùng phụ c*n, cả Nam Kỳ Lục tỉnh v* cũng không thiếu người ở những miền xa của đất nước đổ xô về Đại thế Giới l*p lòe ánh sáng ma quái, để chơi, để khóc v*… để chết. Trong khi đó, một cuộc đổ xô khác, ở ph*a những thế lực muốn nắm Đại Thế Giới, cũng đến hồi quyết liệt.

Đại Thế Giới như rồng gặp mây khi Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn, được người Pháp giao lại nguồn lợi như một món qu* ân thưởng. Phòng Nhì Pháp sau khi chiêu hồi Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), thủ lĩnh Bình Xuyên, về th*nh đã gắn cho ông lon đại tá.




Cựu ho*ng Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn

Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa l*p, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì để cầu thân với Bảy Viễn, Lý đã bỏ số tiền hơn 4 triệu franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn v* đ*n em tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó, Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ về t*i chánh của ch*nh mình (500 ng*n đồng Đông Dương một ng*y) v* sự bảo trợ của Quốc trưởng Bảo Đại.

Năm 1951, Bảo Đại đặt mua một chiếc Jaguar Mark II to đùng, ph*a trước mũi xe có gắn một con báo Nam Mỹ bằng đồng. Đây l* chiếc ‘con báo’ duy nhất có mặt tại Việt Nam trong cùng thời điểm. Bảo Đại mua nó vì th*ch, sau đó dự định sẽ để d*nh l*m qu* sinh nh*t cho ho*ng t* Bảo Long. Nhưng cuối cùng lại nổi hứng, ông đã đem tặng nó cho viên tướng lục lâm Lê Văn Viễn, như qu* mừng vì tay n*y đã thâu tóm được sòng bạc Đại Thế Giới ở Chợ Lớn, h*ng tháng đem lại cho Bảo Đại một số tiền cống nộp kếch xù.

V*o năm 1955, nhằm thống nhất các lực lượng Quốc gia, cắt đứt nguồn t*i trợ của Bảy Viễn cũng như xóa bỏ lối sống đồi trụy tại đây, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh đóng c*a Đại Thế Giới. Đầu năm 1955 đánh dấu ng*y t*n của Grand Monde, khi ch*nh quyền Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh dẹp sòng bạc lớn nhất Đông Nam Á. Phần đông người S*i Gòn thở ph*o nhẹ nhõm mỗi khi đi ngang qua nơi xưa kia vốn vừa l* Thiên Đ*ng vừa l* Địa Ngục. Tuy nhiên, các đệ t* của Thần Đổ Bác chắc hẳn… buồn năm phút!

Ng*y nay, Việt Nam có một casino duy nhất tại Quảng Ninh mang tên Casino Đồ Sơn chỉ d*nh riêng cho người nước ngo*i. Đây l* casino được tổ chức theo tiêu chuẩn quốc tế v* theo lu*t mới, muốn đầu tư v*o casino phải có tối thiểu 4 tỷ đô cho một dự án. Tại các khách sạn lớn ở S*i Gòn như New World, Equatorial, Duxton, Legend… giải tr* đỏ đen được tổ chức dưới dạng câu lạc bộ (club) trang bị các loại slot machines để phục vụ nhu cầu khách quốc tế.

Ng*y xưa, người ta gọi những máy đánh bạc n*y qua một cái tên khá ngộ nghĩnh, One-armed Bandit, vì mỗi máy có cần gạt để kéo. Bây giờ tiến bộ hơn, máy chỉ dùng to*n nút bấm. Không biết giới đỏ đen đã có từ n*o để thay thế cho ‘tướng cướp một tay’?




‘Tướng cướp một tay’ ở Las Vegas

Các club đánh bạc tại khách sạn chỉ hoạt động cầm chừng vì khách đến Việt Nam chủ yếu l* khách du lịch, nếu ghiền cờ bạc thì họ đến những casino ở Macau, Monte Carlo hay Las Vegas chứ loại ‘tép riu’ như các club ở Việt Nam đâu có gì hấp dẫn. Trái lại, người Việt ta vốn mang trong người dòng máu ‘đỏ đen’ nên nhìn các club trong khách sạn sang trọng một cách… thèm thuồng.

Ông chủ các câu lạc bộ cũng nh*n thấy điều đó nên họ ‘xé r*o’ để các con bạc Việt Nam v*o nướng tiền. Công an cũng thấy chuyện đó (nghề của ch*ng m*!) nên có những vụ đột k*ch club đánh bạc tại khách sạn v* cất được những ‘mẻ lưới’ lớn. Báo ch* cho biết, có con bạc đã hơn 40 lần ‘lạc’ v*o đây, đổi tổng cộng trên 1,6 triệu đô ra ‘phỉnh’, ngo*i vô số lần ‘cháy túi’, lần thắng cao nhất chỉ khoảng 7.000 đô!

Cấm trong nước thì họ đem tiền ra nước ngo*i chơi. Người ta còn ‘vượt biên’ sang Campuchia, gần c*a khẩu Mộc B*i (Tây Ninh), để đánh bạc. Hơn 95% người đánh b*i ở đây l* người Việt. Trong tương lai sẽ có h*ng loạt nước láng giềng mở casino v* người Việt chắc chắn sẽ siêng đi du lịch nước ngo*i hơn…

Huyện Bavet tỉnh Svây Riêng (Campuchia) có tới 7 casino nằm gần nhau như h*ng xóm nhưng chưa bao giờ phải lời qua tiếng lại vì khách v*o nườm nượp. Những cái tên như Sun City, Full House, Le Macau, Las Vegas… vốn đã nằm sẵn trong lịch trình của h*ng ng*n người từ các tỉnh ở miền Nam đi th* v*n đầu năm. Từ sáng sớm đến tối mịt, mọi câu chuyện đều xoay quanh baccarat, rolex, xì dzách hay x*p xám…

***

Từ năm 1932, S*i Gòn đã có trường đua ngựa Phú Thọ nổi tiếng vùng Đông Dương v* cũng l* một trong những ‘t* địa’ của dân máu mê cờ bạc. Dân chơi đua ngựa thuộc nằm lòng câu hát ‘Đường v*o trường đua có trăm lần thua, chỉ một lần huề...’ v* một tay chơi có thâm niên đã khẳng định: “Bắt độ ngựa m* chỉ tin v*o may rủi thì... không còn quần x* lỏn m* mặc!".

Ngựa đua tại Phú Thọ được chia l*m 4 hạng A, B, C v* D, xếp theo tuổi v* chiều cao của ngựa. Ngựa nổi tiếng một thời phải kể đến những cái tên rất kêu như Đạm Phi Tiên, Đại Anh Hùng, Long Sơn Hiệp, Nữ Thần, Mã Thượng, Thái Dương, Thoại Lan... Lại còn có những ngựa mang tên những người đẹp như Lý Lệ Hoa, Dương Quý Phi…

Ngựa nổi tiếng nhất lịch s* trường đua Phú Thọ có lẽ l* Thoại Lan. Trong các năm 1970-1972, Thoại Lan gần như không có đối thủ, v* hiếm có khi về nhì. Cho đến năm 1973 khi có đợt ngựa mới như Thu*n Hùng, Ho*ng Lộc, Astro Boy... Thoại Lan mới chịu "nhường ngôi".

Trường đua Phú Thọ

Trường đua Phú Thọ l* một xã hội thu nhỏ v* khép k*n. Trong cái cộng đồng đó, ông chủ ngựa l*m… ‘vua’ vì có khi cả 10 con ngựa trên đường đua đều cùng một chủ, việc phân hạng nhất nhì đều nằm trong tay chủ ngựa từ trước cuộc đua. Rất hiếm ông chủ không ‘l*m độ’ vì trên thực tế nếu về nhất, chủ ngựa chỉ được thưởng v*i triệu đồng nhưng nếu có ‘móc ngoặc’ thì thu nh*p sẽ tăng đến mức 10 lần, chưa kể những quyền lợi ‘ch*nh đáng’ khác từ phần trăm tiền vé v* từ các mối quan hệ khác.

Chủ ngựa dù không muốn ‘l*m độ’ cũng bị móc l*m độ hoặc bị ép l*m độ. Khi đã ‘l*m độ’ thì phải hết sức b* m*t vì nếu để lộ, tiền thưởng trong vé, sẽ giảm xuống. Chẳng hạn như ngựa Dương Quý Phi được mua 1.000 vé, nếu một người trúng sẽ được 1 triệu đồng, nhưng nếu 10 người cùng trúng thì mỗi người chỉ còn 100.000 đồng. Cũng vì thế, ngay cả cha con, anh em, họ h*ng một khi ‘l*m độ’ cũng phải giấu nhau.

Ở trường đua Phú Thọ có cha con ông Bảy, một đại ca có máu mặt của khu Cây Da X* trước năm 1975, đã từng choảng nhau vì bố ‘l*m độ’ m* con không biết, vẫn đánh cho ngựa của bố đến nỗi phải chịu thua tan tác. Cách l*m độ như sau: có bốn ông chủ ngựa lớn đại diện cho các vùng Đức Hòa - Long An, B* Điểm - Hóc Môn, Gò Vấp v* CLB đua ngựa sẽ họp nhau để… ‘b*n về ngựa’. Con n*o được cả bốn ông bầu chọn về nhất sẽ được gọi l* ngựa “4 sao”. Nếu có một ông không đánh giá cao, con ngựa đó sẽ rớt xuống “3 sao”.

Nhìn v*o “sao” của ngựa, dân cá cược bắt đầu đặt tiền l*m độ. Dân chơi lớn mua một lần v*i nghìn đến cả chục nghìn vé cho con ngựa mình chọn, mỗi vé mười nghìn đồng. Đối với chủ ngựa, chỉ đầu tư nhiều vé khi có cơ sở để tin rằng ngựa của mình có khả năng thắng ngược, song những tay độ lớn *t chơi với phòng vé hoặc mua *t vé cho người ta khỏi để ý. Cốt t* l* những tr*n đánh độ nảy l*a h*ng trăm triệu đồng, h*ng tỷ đồng được d*n xếp k*n đáo giữa những tay chơi lớn, đó gọi l*… cá l*u. Khi đã đầu tư số tiền khủng khiếp như v*y, các tay cá l*u bắt đầu dùng thủ đoạn để thắng cuộc.

Để có được một kết quả l*m độ như ý, những đại gia ‘cá l*u’ tổ chức một hệ thống ngầm quy mô, chặt chẽ với chủ ngựa, n*i ngựa, th*m ch* có cả sự móc ngoặc của một số trọng t*i trường đua. Ngo*i trọng t*i trên đường đua còn có trọng t*i chuồng, kiểm tra bước chuẩn bị xuất phát của ngựa. Nếu vị n*y không công tâm, những chiến mã có thể bị ‘đứng chuồng’ (xuất phát ch*m).

Trọng t*i sẽ quyết định nếu trọng lượng của n*i nhẹ hơn quy định phải buộc đeo thêm chì. Nếu móc ngoặc được với vị n*y, con ngựa chở n*i nhẹ cân không bù chì hoặc bù không đủ số lượng sẽ chạy nhanh hơn. Còn trọng t*i trên đường đua sẽ x* lý các h*nh vi phạm lu*t như: chạy cắt mặt, lấn đường, ép nhau, n*u cương...

Trên đường đua, ngo*i việc trọng t*i công tâm, một con ngựa th*nh công phụ thuộc v*o 3 yếu tố: đường chạy, khả năng của ch*nh nó v* t*i năng của n*i ngựa. Theo kinh nghiệm của một số chuyên gia về ngựa thì n*i ngựa giỏi đóng góp đến 80% chiến thắng. Đối với những con ngựa hay thì việc chiến thắng l* điều dễ d*ng, nhưng ngựa thì thường hay giở chứng, để điều khiển được con ngựa bất kham, điều cần thiết phải có một n*i ngựa giỏi.

N*i ngựa

Thường thì giới bao cá l*u rất *t khi tiếp xúc được với n*i ngựa, chúng chỉ thông qua chủ ngựa hoặc ch*nh người thân của n*i như cha mẹ, anh em ruột thịt, dùng tiền mua chuộc để họ tác động đến n*i ngựa. Ch*nh những tác động từ chủ ngựa, từ gia đình của n*i nên không *t n*i ngựa đã có những biểu hiện tiêu cực l*m thay đổi kết quả tr*n đấu.

Ngo*i việc mua chuộc, lôi kéo, hăm dọa các chủ ngựa, trọng t*i, n*i... để l*m độ, các ‘đại gia’ trong l*ng cá độ l*u còn áp dụng nhiều thủ đoạn để hại ngựa nhằm gi*nh phần thắng.

Các chủ ngựa khi l*m độ muốn ngựa mình thua cũng áp dụng nhiều trò xấu với ngựa của mình như: ch*ch thuốc ngủ cho ngựa, phải l* tay chuyên nghiệp mới l*m được điều n*y vì nếu canh thuốc không chuẩn, con ngựa chưa v*o đường đua đã xỉu thì rất dễ bị phát hiện v* trừng phạt nặng theo lu*t đua; có ngựa còn bị ch*ch ma túy, cho uống thuốc xổ, bỏ đói...

Còn muốn ngựa thắng thì người ta ch*ch thuốc bổ, thuốc k*ch th*ch... Bởi v*y sau mỗi cuộc đua, ngựa bị nghi ngờ có thể sẽ phải th* nước tiểu để rõ trắng đen. Cũng có trường hợp chủ ngựa đã nh*n bán độ, cố l*m cho ngựa thua nhưng con ngựa do quá sung vẫn phóng ầm ầm, lúc đó n*i ngựa sẽ ghì cương cho nó chạy ch*m lại. Theo lu*t của thế giới ngầm, nếu đã nh*n độ nhưng không ‘l*m tròn trách nhiệm’ sẽ phải bồi thường gấp 3, nếu ‘chống án’ sẽ bị x* theo lu*t giang hồ!

Nạn cá l*u hiện chiếm 2/3 doanh số cá cược ở mỗi độ đua, một mặt gây thất thu ngân sách hoạt động của trường đua, mặt khác gây phức tạp như l*m cho các cuộc đua mất đi giá trị đ*ch thực của hoạt động thể thao, gây tâm lý bất ổn cho người l*m nhiệm vụ trọng t*i, n*i ngựa v* cả chủ ngựa. Vó ngựa trường đua, đối với những người ham mê cá độ, có sức quyến rũ chẳng khác gì ma túy!

Cờ bạc l* bác thằng bần, thế nhưng lời răn đe đó hình như không có tác động n*o đối với những người trót mang trong mình dòng máu đỏ đen. Thời n*o cũng v*y, hình như cờ bạc l* một con đường ngắn nhất để l*m gi*u đối với một số người. Có điều đó l* một con đường của ảo tưởng, của thân bại danh liệt v* của thất vọng ê chề…


S*i Gòn tứ đổ tường: rượu chè


Đây l* b*i cuối cùng trong loạt 4 b*i viết về tứ đổ tường ở S*i Gòn xưa. Ngo*i những tệ nạn yên (thuốc phiện), đổ (cờ bạc), sắc (trai gái), trong b*i viết n*y tôi sẽ viết đến ‘món ăn chơi’ thứ 4: t*u (rượu chè).

L*m một cuộc khảo sát về rượu trên to*n cõi Việt Nam ta mới thấy nước mình nghèo thì nghèo th*t nhưng lại rất gi*u về khoản… rượu chè! N*y nhé, chót vót đỉnh núi miền thượng du Bắc Việt có rượu Táo Mèo, xuôi đồng bằng Sông Hồng có rượu L*ng Vân, v*o Bình Định có B*u Đá, ngược lên miền Tây Nguyên có rượu cần, đến Long An có Gò Đen, tới Tr* Vinh có Xuân Thạnh, ngo*i t*n đảo Phú Quốc có rượu sim…

Bên cạnh những rượu theo địa danh nói trên còn có vô số chủng loại rượu. Rượu thuốc ngâm lá cây, rễ cây, rắn rết, hổ báo, v* những thứ ‘độc’ như con b*a củi, tắc kè, hải mã, bảo đảm… ông uống b* khen! Còn một thứ rượu nữa m* chỉ có b*c đế vương như vua Minh Mạng mới có thể uống để nhất dạ lục giao sinh ngũ t*!

Hạng phó thường dân thì l*m sao kiếm đủ 6 đối tượng trong một đêm để ân ái? M* tại sao lục giao lại sinh ngũ t* chứ không phải lục t*? Nếu chỉ có một b* m* ân ái đến 6 lần trong một đêm để sinh ngũ t* thì chắc loại rượu thuốc n*y *t người dám dùng, thứ nhất sợ phạm lu*t sinh đẻ có kế hoạch, thứ đến l* một đêm sản xuất đến 5 nhóc tì thì những đêm khác phải nhịn thèm vì hiểm họa nạn nhân mãn treo trước mặt!



Rượu Việt Nam trưng bầy tại hội chợ


Sau n*y lại có thêm rượu Tây cao cấp. Whisky thì có Remy Martin; Rhum thì có Buddelschiff; Cognac thì Hennessy, XO; Champagne thì có Vin Mousseux rồi sau n*y còn có cả Vodka Smiranoff hay Mao Đ*i từ ph*a các nước anh em vĩ đại Liên Xô v* Trung Quốc. Tóm lại, Việt Nam rượu gì cũng có, tùy thuộc v*o túi tiền của bợm nh*u.

Cũng vì thế đã có không biết bao người thiệt mạng vì bia, rượu với những căn bệnh về gan, th*n. Cũng có không *t gia đình bị khốn đốn vì l* nạn nhân, trực tiếp hoặc gián tiếp, của tệ nạn nh*u nhẹt. Người ta có thể họp nhau nh*u ở bất cứ nơi n*o, bất cứ khi n*o với bất kỳ lý do n*o.

Tôi còn nhớ cứ mỗi độ xuân về, những c*a h*ng ph*a xung quanh chợ Bến Th*nh thi nhau quảng cáo để mời ch*o khách đi sắm Tết. Bên cạnh những cái loa phát ra điệp khúc ‘cha cha cha Hynos’ rầm rộ quảng cáo kem đáng răng có hình anh Ch* nước da đen bóng với h*m răng trắng nhởn còn có tiếng oang oang quảng cáo ‘khô nai Ban Mê Thuột, khô cá thiều Phú Quốc’. Đại khái như “…nướng khô nai, khô cá thiều bên n*y đường thì bên kia đường đem rượu ra uống vẫn thấy ngon!

Nh*u đã đi v*o cuộc sống của người S*i Gòn. Đồ nh*u thì ‘thượng v*ng hạ cám’: cóc, ổi, me, xo*i v* th*m ch* chỉ còn v*i hột muối ớt cũng đủ l*m mồi đưa cay thêm v*i xị. Nh*u theo kiểu sang trọng l* các sếp, các đại gia hay những kẻ vừa trúng ‘mánh’. Trên b*n nh*u rượu thịt ê hề, tiền bạc không nghĩa lý gì với họ v* mục đ*ch chỉ l*… mua vui.

Đối với dân S*i Gòn trước 1975, chủ yếu chỉ có bia, hay còn gọi l* la-ve hoặc la-dze: la-ve chai lớn Con Cọp (dung t*ch 61 centi-litres) v* la-ve chai nhỏ 33 (33 cl) của hãng BGI. Nồng độ chai Con Cọp nhẹ hơn nồng độ chai 33 nhưng đa số dân chúng miền Nam th*ch chai Con Cọp hơn vì vừa rẻ lại vừa nhiều gần gấp đôi so với chai nhỏ.




Đối với dân ‘s*nh điệu’ thì không phải chai bia lớn Con Cọp n*o cũng giống nhau: nhìn v*o nhãn hiệu cái đầu ‘ông ba mươi’, người ta thấy có hai c*nh hoa trái m* mới thoáng qua mấy đấng m*y râu khi đã ngấm hơi men, mắt lờ đờ, trông g* hoá quốc, cho đó l* nh*nh cây v* trái dâu tây (strawberry) nhưng có ông lại cho l* c*nh dây leo v* trái thơm (pineapple)!




La-ve BGI


Cây thơm m* thuộc loại dây leo thì th*t l* động trời, hết nước nói! Th*t ra thì cái nhìn của dân nh*u không phải l* sai nhưng lỗi ở nơi mấy ông họa sĩ vẽ nhãn hiệu in lên cái chai: có đợt họ vẽ các nụ bông hốt bố (houblon) giống như trái dâu tây, có đợt họ kéo trái dâu tây d*i thêm ra giống như trái thơm! V* kể từ đó, giới ăn nh*u đồn với nhau l* la-ve Con Cọp có trái thơm ngon hơn la-ve con cọp có trái dâu!

La-ve trái thơm rất ‘hiếm’, trong một két la-ve mua về may mắn lắm mới có được 1 hay nhiều lắm l* 2 chai ‘trái thơm’. Không biết BGI có cố tình thỉnh thoảng cho v*o một v*i chai ‘trái thơm’ hay không.

Thời kỳ kiệm ước, giới công chức, cảnh sát, quân nhân không đủ tiền mua la-ve ở các đại lý (dépot) có môn b*i độc quyền mua bán la-ve của mấy chú Ba nên Quân Tiếp Vụ mới đặt h*ng riêng với BGI v* cho ra đời La-ve Quân Tiếp Vụ (nhưng không có cái đầu của con cọp) để bán rẻ cho Quân Cán Ch*nh.



La-ve Quân Tiếp Vụ thời xưa


Cái tên BGI (Brasseries et Glacières de L'Indochine) khởi nguồn từ ý nghĩa ‘Nh* máy l*m nước đá ở Đông Dương’ của ông chủ Victor Larue, người Pháp. BGI thâm nh*p miền Nam v*o cuối th*p niên 1900s với mục tiêu sản xuất nước đá, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu sản xuất bia v* nước giải khát.


Nh* máy BGI nổi tiếng nhất l* Nh* máy bia Chợ Lớn v* Usine Belgique, nh* máy sản xuất nước giải khát được xây dựng từ năm 1952. Sau khi S*i Gòn đổi tên, ch*nh quyền tịch thu t*i sản của chủ Pháp v* Nh* máy bia Chợ Lớn trở th*nh Bia S*i Gòn v* Usine Belgique cũng đổi th*nh Chương Dương, nhưng vẫn l* nh* máy sản xuất nuớc giải khát.

Mãi đến năm 1991 BGI Pháp mới trở lại Việt Nam v* chịu nhiều thua thiệt của kẻ đến sau. V*o lúc đó, đã có BGI, một công ty liên doanh giữa nh* nước v* t*p đo*n Castel’s, nên BGI Pháp được khuyến cáo… nên ra miền Bắc để bắt đầu công việc kinh doanh. Dĩ nhiên họ không chịu v* sau đó lặn lội xuống t*n Tiền Giang để th*nh l*p một công ty liên doanh với tỉnh Tiền Giang.

BGI Tiền Giang bắt đầu hoạt động v*o năm 1993 với sản phẩm được phân phối rộng rãi trong khu vực châu thổ sông C*u Long. Thời gian đầu, BGI được sự đón nh*n của người tiêu thụ, nhờ v*o di sản v* danh tiếng. Tuy nhiên, vì nhu cầu vượt quá sự cung ứng trong khi khả năng của công ty lại có giới hạn nên BGI lần lần xuống cấp. Sau v*i năm chịu đựng, BGI quyết định rút về Pháp v* bán hết t*i sản cho bia Foster's v* từ năm 1997 Foster's đã ch*nh thức tiếp quản tất cả t*i sản của BGI. Một lý do khác cho sự thất bại của BGI Pháp có thể l* hoạt động tiếp thị kém hơn so với các loại bia khác.

Trở lại chuyện ăn nh*u ở S*i Gòn. BGI không thể n*o độc quyền phục vụ dân nh*u. Việt Nam nghèo gì thì nghèo nhưng lại rất gi*u về rượu v* bia. Thế cho nên, cả nước đều nh*u, nh* nh* cùng nh*u. Đi đâu cũng văng vẳng tiếng ‘Dzô, Dzô!’… trăm phần trăm. Báo ch* đã tr*ch dẫn lời một Phó b* thư thường trực Tỉnh ủy đã ‘nói vui’ rằng, nếu cứ để tình trạng “Sáng Băng Cốc, trưa Viêng Chăn” (sáng uống cốc rượu, trưa chui v*o chăn ngủ) thì chẳng mấy chốc hỏng hết cán bộ.

Theo tôi, câu nói đó không vui chút n*o. Rượu t*n phá nhiều thế hệ đã qua v* sẽ hủy hoại nhiều thế hệ sắp tới. Liên Xô l* nước nổi tiếng về số người nghiện rượu v* thực tế đã chứng minh, Liên Xô tụt dốc, một con dốc thẳng đứng cả về mặt ch*nh trị lẫn xã hội. Còn Việt Nam?

V*o thời bao cấp, tại miền Bắc có rượu quốc lủi. Rượu nh* nước độc quyền sản xuất được gọi l* quốc doanh cho nên rượu do tư nhân sản xuất ‘chui’ được gọi l* quốc lủi, nói nôm na l* rượu l*u. Có người còn cho l* cái tên quốc lủi h*m ý gặp công anh thì lủi cho nhanh không thì mất cả chì lẫn ch*i!

Trong thời buổi khó khăn, người dân miền Bắc phải ‘l*m kinh tế phụ’ bằng cách nấu rượu y như thời Pháp thuộc. Họ dùng các loại ngũ cốc có h*m lượng tinh bột cao như gạo tẻ, gạo nếp, gạo lứt, ngô hạt, mầm thóc, sắn, hạt m*t, hạt dẻ, hạt bo bo… để nấu rượu. Phần bã hèm d*nh cho lợn vì nh* n*o cũng nuôi lợn ‘tăng gia’, thế l* một công đôi việc!



Nấu rượu l*u thời Pháp thuộc


Nam vô t*u như kỳ vô phong, riêng tôi thì đ*nh chấp nh*n l*m lá cờ không gặp gió vì quả th*t không biết nh*u, chỉ giỏi… phá mồi. Mới hớp độ một hai hơi cũng đủ khiến mặt đỏ gay nên chỗ n*o có nh*u vội v*ng tránh xa vì không muốn mang bộ mặt đỏ gay trên đường về nh*. (Uống lai rai với bạn bè tại nh* thì không sao, có say thì cũng có sẵn giường để ngả lưng!)

Tôi nghĩ giá không bị cái t*t ‘phản ứng’ với rượu chắc tôi cũng có thể… ai tới đâu cũng cố theo tới đó vì t*u lượng không đến nỗi n*o một khi đã đổi từ ‘mặt đỏ’ sang ‘mặt tái’ v* cuối cùng l*… thiếp đi trên giường. Tôi cũng đã trải qua tình trạng ‘say lại’: say lần đầu ngủ một giấc, khi tỉnh d*y lại say tiếp… m* lần ‘say lại’ còn ‘đ*m đ*’ hơn lần say đầu bội phần.

Rượu uống chẳng bằng ai nhưng tôi lại có cái thú… sưu tầm rượu! Tôi có một tủ rượu v* dĩ nhiên đó không phải l* loại ‘người mua không uống nhưng người uống lại không mua!’ m* l* người không biết uống mua về… chưng tủ k*nh. Có những chai rượu nhỏ mua về l*m kỷ niệm từ bên Áo, Ý, Đức… có những chai loại night-cap thường thấy trong mini-bar tại các khách sạn hoặc trên các chuyến bay quốc tế.

Bây giờ những chai rượu đó vẫn nằm yên trong tủ rượu chưa khui chỉ vì chủ của nó không biết thưởng thức chất men m* chỉ biết trân trọng vẻ đẹp bên ngo*i của những cái chai v* mầu của rượu. Hóa ra trong triết lý uống rượu vẫn có một thứ lý lu*n lẩm cẩm l* rượu còn dùng để chưng chứ không để uống!

Ng*y xưa, cụ Nguyễn Trãi trong b*i Gia huấn ca đã từng dạy:

Đua chi chén rượu, câu thơ
Thuốc l*o ngon nhạt, nước cờ thấp cao

Không biết người ta còn ai chịu nghe những lời cũ r*ch như v*y hay chỉ biết hứa với nhau trước khi nh*p tr*n nh*u: “Không say không về!”.



Reply With Quote
  #9  
Old 03-05-2011, 04:24 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

Lăng Cha Cả

Lăng Cha Cả nằm ở khu vực ngã tư Nguyễn Văn Thoại - Trương Minh Ký (ng*y nay đổi tên l* Ho*ng Văn Thụ - Lê Văn Sỹ). Lăng l* khu đất rộng khoảng 2 ng*n thước vuông, gồm một nh* lợp ngói, cột v* vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn. Người công giáo gọi Cha Cả l* vị tu sĩ đứng đầu địa ph*n v* Lăng Cha Cả l* mộ phần của Giám mục Bá Đa Lộc, tu sĩ người Pháp đã sang giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn Nguyễn Huệ. Bá Đa Lộc l* tên tiếng Việt được phiên âm từ tiếng Pháp, Pigneau de Behain.



Lăng Cha Cả ng*y xưa


Nh* nghiên cứu Lý Nhân Phan Thứ Lang, người Công giáo, đặt vấn đề: "Nhiều người nghĩ đó l* mộ th*t của Đức Giám mục, nhưng tờ Nam Phong Tạp Ch* của Phạm Quỳnh, quyển XVI, 92, phát h*nh tháng 2 năm 1925, có b*i: "Bá Đa Lộc: mộ ông... hiện nay ở đâu?" của Vương Gia B*t, chỉ rõ: Lăng Ngọc Hội cách th*nh phố Nha Trang 8 cây số. Ph*a trước mộ có một cái miếu nhỏ ở giữa đề chữ Hán: "Bá Đa Lộc chi mộ". Ph*a sau miếu có khắc cây Thánh giá. Ng*y 13/3/1925, quan Công sứ v* Linh mục nh* thờ Bình Can (Nha Trang) ra lệnh cải táng. Bên trong, xương cốt đã mục, h*m còn d*nh 3 cái răng, có 2 - 3 cái rơi ra ngo*i....”

Như v*y đ*ch l* mộ Đức Cha Bá Đa Lộc chôn ở Nha Trang. Theo tôi, ngay sau khi cải táng, h*i cốt của Đức Cha đã được đưa về Pháp, ngôi mộ ở khu Lăng Cha Cả tại S*i Gòn chỉ l* tượng trưng. Tôi nghĩ, khi Gia Long mới lên ngôi, sợ Tây Sơn có ng*y l*t ngược thế cờ, nên phải cho dựng lăng ở Gia Định để đánh lạc hướng. Còn việc di dời lăng phục vụ dân sinh l* một quyết định đúng của ch*nh quyền.

Ch*nh quyền ra lệnh giải tỏa khu vực lăng v*o năm 1980, đến năm 1983 việc cải táng ho*n tất. Riêng mộ của Giám mục Bá Đa Lộc, khi khai qu*t, chỉ thấy cây Thánh giá bằng v*ng Tây lớn m* ông đeo khi xưa, chiếc g*y v*ng của chức Giám mục v* những mề đay của nh* nước Pháp v* Việt trao tặng cho ông.



Tro cốt Giám mục Bá Đa Lộc hiện được lưu giữ tại Pháp


Khu vực Lăng Cha Cả ng*y nay không còn vết t*ch của lăng m* thay v*o đó l* một vòng xoay lớn để phân luồng xe cộ. Mặc dù đã phân luồng nhưng đây vẫn l* một điểm nóng, luôn xảy ra kẹt xe. Xe từ ph*a phi trường Tân Sơn Nhất đổ ra, xe từ đường Nguyễn Văn Sỹ (Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký ng*y xưa), xe từ đường Lý Thường Kiệt (xưa l* đường Nguyễn Văn Thoại)… tất cả đều gặp nhau ở khu vực Lăng Cha Cả nên kẹt xe l* chuyện thường ng*y…


Lăng Cha Cả ng*y nay


Trước khi S*i Gòn đổi tên, gia đình tôi thuê nh* tại khu Lăng Cha Cả. Căn gác số 42/1/17 đường Bùi Thị Xuân nằm trong xóm đạo Tân Sa Châu của người Bắc di cư. Trong xóm đạo có cả khu nghĩa trang để chôn người chết v* căn gác của tôi có balcon nhìn thẳng xuống nghĩa địa. Như v*y l* chúng tôi sống chung với người chết từ măm 1970 đến khoảng 1990.

Kể cũng lạ. Trong suốt 20 năm chung sống với người chết, cả gia đình chúng tôi ho*n to*n không có ý niệm về việc ‘sợ ma’. Có lẽ bốn đứa con tôi lớn lên trong môi trường thường xuyên tiếp xúc với những nấm mộ nên chúng ho*n to*n không hề có cảm giác sợ sệt. Có lúc, th*m ch* tôi còn nghĩ, nhờ nghĩa địa n*y m* căn gác trở nên thông thoáng mỗi khi mở c*a balcon trông xuống tường r*o nghĩa địa.

Khi chúng tôi dọn đến, nghĩa trang đã gần hết chỗ, chỉ thỉnh thoảng mới có đám ma mới chen v*o những ngôi mộ cũ. Cũng như xã hội người sống có kẻ gi*u, người nghèo, những nấm mộ trong nghĩa trang cũng nói lên địa vị xã hội của người chết. Có những nấm mộ đắp đất sơ s*i, th*m ch* còn không có mộ bia, nhưng cũng có những nấm mộ xây bê tông cốt thép có cả mái che mưa, che nắng.

Nghĩa trang bao giờ cũng buồn trong sự yên lặng của người chết. Họ không bao giờ to tiếng, chẳng hề bon chen v* nhất l* bình đẳng sau khi chết. Chỉ những người sống l* ồn *o, ngay cả trong phút tiễn đưa người chết đến nơi an nghỉ cuối cùng. Người đưa đám khua kèn trống dinh tai, cất tiếng khóc não nuột. Nhưng rồi đâu cũng v*o đấy. Khi tang lễ chấm dứt, họ tiếp tục quay về với cuộc sống hiện tại.

Ng*y xưa, người S*i Gòn rất ghét bọn gian thương Ba T*u chỉ vì chúng lũng đoạn thị trường, l*m gi*u trên xương máu người Việt. Ấy v*y m* khi một chú Ba nằm xuống, đám ma rình rang, kèn Tây kèn T*u rầm rộ, người đi đưa đám vui như một đám hội. Không biết một thi sĩ n*o đã tức cảnh đề thơ về những cái chết của chú Ba:

Sống phá rối thị trường,
Chết ch*t đường, ch*t xá!

Hồi mới giải phóng có b*i ca Kết Đo*n từ miền Bắc du nh*p v*o Nam, lời ca thể hiện phương châm Đo*n kết, Đo*n kết, đại Đo*n kết…:

Kết đo*n chúng ta l* sức mạnh,
Kết đo*n chúng ta l* anh em…

Trẻ con trong xóm tôi lại có lời ca thứ hai, diễn tả một đám ma bằng những hình ảnh th*t trung thực:

Chết rồi bỏ vô hòm đóng lại,
Chết rồi bỏ vô hòm đem chôn

Người chết đi đằng trước

Người sống đi đằng sau

Cả lũ kéo nhau

Vừa khóc vừa mếu…







Người sống sau đó lại quay về với cuộc sống h*ng ng*y, bỏ lại sau lưng những nấm mồ của người thân. V* có lẽ chỉ có chúng tôi, những người h*ng xóm sống với người chết, đi ra đi v*o nhìn thấy nhau dù nh* của họ chỉ l* một nấm mộ rộng v*i ba tấc đất.

Có những đêm nóng nực, tôi mở c*a ra balcon ngồi hóng gió. Đó l* những lúc tôi cảm thấy gần gũi với người chết nhiều hơn, họ l* đám đông thầm lặng dưới mồ. Có những nấm mộ thân quen. Quen chỉ vì quen mặt người thân năng lui tới thăm mộ.

Đó l* một ông gi* vợ chết, hầu như ng*y n*o ông cũng đạp xe đến với b*. Mộ của b* nằm gần tường r*o trước balcon nh* tôi. Nhiều lúc ông chỉ đến tay không, hay có chăng v*i nén nhang thắp trên mộ b*.

Trước khi về, ông dáo dác nhìn quanh. Tôi dấu mình trong nh* để tôn trọng giây phút thiêng liêng giữa ông v* b*. Không thấy ai, ông lén hôn lên bức ảnh của b* trước khi về. Tất cả đều diễn ra trong cái yên lặng của nghĩa trang v* có lẽ chỉ mình tôi chứng kiến.

Cho đến năm 1980, nghĩa trang bị giải tỏa theo quy hoạch của qu*n Tân Bình để xây chung cư v* l*m đường thông với đường Phạm Văn Hai v* Nguyễn Văn Sĩ. Khu nghĩa trang xưa đã trở th*nh khu phố của người H*n Quốc. Họ đến ở kéo theo những tiệm ăn H*n Quốc, Karaoke H*n Quốc v* những người con gái lấy chồng H*n Quốc.

Nghĩa trang ng*y xưa giờ chỉ còn đọng lại trong tôi mùi th*t khủng khiếp khi người ta bốc mộ di dời. Một mùi hôi thối đặc trưng của xác người chết khi bị đ*o lên. Mùi hôi đến lợm giọng, buồn nôn mỗi khi có cơn gió đưa v*o mũi. Mùi hôi toát ra từ việc bốc mộ có lẽ l* mùi khủng khiếp nhất trong bất cứ mùi hôi n*o trên đời.

Thân xác con người lúc sống thơm tho như v*y m* sao lúc chết đi lại có mùi dễ sợ đến như thế. Ông gi* si tình ng*y n*o còn có đủ kiên nhẫn hôn một cái xác nặng mùi của b* vợ hay không? Tôi chắc, với ông, b* lúc n*o cũng thơm, dù sống hay đã chết. Tình yêu đã biến những cái ‘không thể’ th*nh ‘có thể’? Cầu cho ông vẫn ‘thơm’ b* trong giấc mơ… cho đến ng*y ông nằm xuống.


Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

S*i Gòn xưa nổi đình nổi đám nhất trong thế giới của người chết l* Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. ( nay l* công viên Lê văn Tám ) Nghĩa trang rộng khoảng 7,5 hecta v* được coi l* nơi an nghỉ của giới ‘quý tộc’ S*i Gòn trước khi th*nh phố đổi tên. Nơi đây nhiều nhân v*t nổi tiếng một thời như Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại tướng Lê Văn Tỵ đã từng yên nghỉ.


Nhân đây cũng nên nói qua về nhân v*t Lê Văn Tám :

Ng*y 19/10/1945 (?), c*u bé Lê Văn Tám (16 tuổi) đã tẩm xăng v*o người rồi xông v*o đốt kho xăng Thị Nghè Simon Piétri (?) của thực dân Pháp cách đấy mấy chục mét.

Về câu chuyện anh hùng n*y, Phan Huy Lê, giáo sư s* học Đại học Quốc gia H* Nội, trong b*i viết Trả lại sự th*t hình tượng Lê Văn Tám đã kể lại theo lời dặn của Giáo sư Trần Huy Liệu khi đó đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Ch*nh phủ :

“Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy v*o khoảng tháng 10 - 1945 v* được loan tin rộng rãi trên báo ch* trong nước v* đ*i phát thanh của Pháp, đ*i BBC của Anh; nhưng không biết ai l* người tổ chức v* trực tiếp đốt kho xăng nên tôi [tức GS Trần Huy Liệu – chú th*ch của NNC] đã "dựng" lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng v*o người rồi xông v*o đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét”.

Đ*i BBC đưa tin v* hôm sau bình lu*n: “Một c*u bé tẩm xăng v*o người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm l* chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng”. Ông Liệu chắc đã phải tự trách mình vì thiếu cân nhắc về logic nên có chỗ chưa hợp lý.

Thời Nam Bộ kháng chiến, có rất nhiều tấm gương hy sinh vì Tổ quốc cho nên ‘dựng’ chuyện thiếu niên Lê Văn Tám l* nghĩ đến biểu tượng c*u bé anh hùng l*ng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám có lẽ vì họ Lê Văn rất phổ biến v* Tám l* nghĩ đến Cách mạng tháng Tám (?).

Ông Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Ch*nh phủ lâm thời từ ng*y 28/8/1945 đến ng*y 1/1/1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động trong Ch*nh phủ liên hiệp lâm thời từ ng*y 1/1/1946 cho đến khi th*nh l*p Ch*nh phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ng*y 2/3/1946. Ông Liệu l* một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nh*n trong lịch s* do mình tạo nên trong một bối cảnh v* yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến.

Theo GS Lê, ông Liệu đã căn dặn: “Sau n*y khi đất nước yên ổn, các anh l* nh* s* học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, GS còn tiên lượng l* biết đâu sau n*y có người đi tìm tung t*ch nhân v*t Lê Văn Tám hay có người lại tự nh*n l* h*u duệ của gia đình, họ h*ng người anh hùng. Đây ch*nh l* điều lắng đọng sâu nhất trong tâm tr* m* tôi [tức GS Lê – chú th*ch của NNC] coi l* trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố v* đối với lịch s*”.

Nói đi thì cũng phải nói lại. Trong loạt b*i viết trên báo S*i Gòn Giải phóng có nêu một số nguồn tham khảo cho biết Lê Văn Tám l* một nhân v*t có th*t. Theo nh* văn Trần Trọng Tân, với tư liệu Lịch s* S*i Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945 - 1975) của Nh* xuất bản th*nh phố Hồ Ch* Minh (1994) thì có thể khẳng định kho đạn Thị Nghè đã bị nổ hai lần v*o ng*y 17-10-1945 v* ng*y 8-4-1946. Vụ nổ ng*y 17-10-1945 gắn liền với Cây đuốc sống Lê Văn Tám l* có thực.

Kho đạn hay kho xăng gần cầu Thị Nghè trong thời gian 1945-1946 đã từng bị cháy đến hai lần? Lần đầu xảy ra v*o ng*y 17-10-1945, khi đó thiếu niên Lê Văn Tám, dưới sự chỉ đạo của Lê Văn Châu, đã đột nh*p v*o kho đạn, mang theo diêm v* xăng. Khi rút lui, Lê Văn Tám bị d*nh xăng v* bốc cháy như một cây đuốc sống.

Biểu tượng ‘ngọn đuốc sống Lê Văn Tám’ đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu v*o tâm thức của mọi người, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý ch* xả thân vì nước của quân dân trong buổi đầu của Nam kỳ Kháng chiến chống thực dân Pháp. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám nhưng tiếc thay vẫn còn nhiều nghi vấn, không biết đó l* hư cấu vì mục đ*ch tuyên truyền hay chuyện có th*t.



Bức tượng về ‘ngọn đuốc sống’ trong công viên Lê Văn Tám,
nơi trước đây l* Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

Cũng tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, tiền thân của công viên Lê Văn Tám ng*y nay, vốn được coi d*nh riêng cho quân đội S*i Gòn, có đến h*ng trăm ngôi mộ chiến sĩ tình báo ‘cách mạng’, ‘binh v*n’ từng đóng vai quan chức, quân nhân tư bản của chế độ S*i Gòn. Khi nằm xuống, họ vẫn mang cái ‘vỏ’ cũ... Thế l* dù cách mạng hay phản cách mạng, những người đã nằm xuống đều có chung ‘thân ph*n’. Đó l* thân ph*n của người chết.

Sau khi bị lực lượng đảo ch*nh giết v*o tháng 11/1963, hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Áo quan của ông Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ n*y giải th*ch, người thân của hai ông đi mua vội quan t*i nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt d*nh cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa d*nh cho ông Nhu.


Ông Ngô Đình Diệm chết trong thiết v*n xa M113

Mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu khá đặc biệt, chỉ có tấm đan bê tông đặt bên trên cao hơn mặt đất v*i chục phân. Suốt từng ấy năm cho đến 1975, hai ngôi mộ nằm lọt thỏm, đìu hiu giữa nghĩa trang bộn bề những ngôi mộ kiên cố.


Áo quan ông Diệm bên phải,
của ông Nhu bên trái trước khi được chôn


Những kẻ cơ hội quay lưng với gia đình họ Ngô đã đ*nh, những người thân cũng ngại đến thăm viếng vì sợ ch*nh quyền thời đó dòm ngó. Năm 1964, b* Phạm Thị Thân, thân mẫu của hai ông mất, đám tang th*m ch* còn không người đưa tiễn!

Hai ông Ngô Đình Diệm v* Ngô Đình Nhu được chôn trong kim tĩnh (hộp bê tông d*y v* k*n) rất khô ráo. Khi cải lên, thi thể của cả hai chỉ khô lại chứ không tan rữa, vẫn có thể nh*n ra từng người. Đầu hai người đều quấn băng trắng in dấu máu đen từ những vết thương trước khi chết. Khi băng được mở, vết máu vẫn còn cứng. Sau gáy ông Nhu có một vết thương khá lớn, có thể do va đ*p.

Trong thời gian di dời, có một người phụ nữ tên l* Hạnh từ Huế v*o, xưng l* cháu, nh*n thi h*i hai ông Diệm-Nhu v* được đem đi cải táng tại nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thu*n An, Bình Dương). Mộ ông Ngô Đình Cẩn (được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị x* bắn v*o năm 1965), v* mộ b* thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về Lái thiêu.

Trong khu đất rộng h*ng nghìn hecta với những rặng cây lớn xanh v* mát, mộ gia đình họ Ngô nằm cùng một dãy. Mộ b* Luxia Phạm Thị Thân nằm ở giữa, mộ hai ông Diệm, Nhu hai bên nhưng trên bia chỉ khắc Gioan Baotixita Huynh (ông anh) v* Giacobe Đệ (ông em). Cách mộ ông Nhu một quãng l* mộ ông Cẩn, trên bia có khắc Jean Baptiste Cẩn.



Mộ ông Ngô Đình Diệm
(trên bia khắc tên ‘Gioan Baotixita Huynh’)
Mộ ông Ngô Đình Nhu
(trên bia khắc tên ‘Giacobe Đệ’)
Mộ của b* Luxia Phạm Thị Thân
(nằm giữa mộ hai người con, Huynh v* Đệ)

Mộ ông Ngô Đình Cẩn
(trên bia chỉ đề Jean Baptiste Cẩn)

Tại Mạc Đĩnh Chi, ngo*i mộ hai ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu còn có mộ thân phụ của các ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, một số tướng lĩnh cao nhất, dòng dõi ho*ng tộc nh* Nguyễn, cùng h*ng nghìn nhân v*t tên tuổi trong ch*nh quyền S*i Gòn. Trước năm 1975, một số người vì muốn thân nhân đã khuất được danh giá, bản thân được chút tiếng tăm, phải cố chạy chọt gi*nh lấy một khoảnh đất trong Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Một người từng cải táng mộ thân nhân tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi v*o năm 1983 l* b* Thanh Triều. B* có chồng l* sĩ quan VNCH v* cháu l* Hồng Ngọc (vợ của ca sĩ Elvis Phương) chôn tại đây. Chồng b* bị t* nạn khi máy bay rơi trên đường từ Đ* Nẵng về Đ* Lạt năm 1973. Còn cô cháu Hồng Ngọc mất năm 1970 do tai nạn giao thông.

B* Triều nhớ lại: "Tôi nh*n được thông báo di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi v*o đầu tháng 5 năm 1983. Thời gian di dời l* 3 tháng. Nói th*t, tôi thấy b*ng ho*ng, vì khi chôn thì xác định rằng chôn vĩnh viễn. Nhưng sau, suy nghĩ cạn lý, tôi thấy việc n*y không đừng được. Nghe đâu mấy ổng trước [ch*nh quyền S*i Gòn – chú th*ch của NNC] đã nhiều lần định l*m rồi, nhưng cứ nán lại vì sợ đụng ông nọ, ông kia".

B* Triều thuê đội bốc mộ cải táng. Khi cải lên, do chôn trong kim tĩnh, lại chôn trong vùng đất cao v* khô, nên cả hai thi h*i vẫn giữ nguyên hình dạng. B* cho đem đi thiêu cả hai. Từ đó đến giờ, b* g*i tro cốt chồng tại chùa Phổ Quang. B* vẫn thường xuyên lên chùa, hương hỏa cho chồng.

Còn phần tro cốt của Hồng Ngọc đã được ca sĩ Elvis Phương mang ra nước ngo*i để tiện việc thờ cúng. Không biết có ch*nh xác hay không, theo nhiều người kể lại, trên mộ của Hồng Ngọc tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi hồi đó, Elvis Phương có khắc dòng chữ “Ngọc chết rồi Phương chơi với ai?”.

Trước 75, Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, còn được gọi qua tên Đất thánh Tây, l* một khu đất bao bọc bởi bức tường vôi m*u v*ng cũ kỹ nằm ngay giữa trung tâm sầm uất của S*i Gòn xưa. Vì l* nghĩa trang của giới quý tộc nên một khoảnh đất nhỏ trong Mạc Đĩnh Chi có giá bằng cả một gia t*i của một người sống giữa đất S*i Gòn.

Mộ bia tại đây thường l* những tấm đá cẩm thạch, đá hoa cương bóng lộn với dòng chữ R.I.P (rest in peace), có những câu đ*m mùi triết lý “Hãy nhớ mình l* cát bụi v* sẽ trở về với cát bụi” hoặc “Người sẽ chết tưởng nhớ người đã chết”...

Nghĩa t* l* nghĩa t*n, ‘người sẽ chết’ đã lo cho ‘người đã chết’ bằng những mộ phần h*o nhoáng trị giá gấp trăm, th*m ch* gấp nghìn lần, những căn nh* ọp ẹp dựng trên bờ kinh nước đen Nhiêu Lộc.


Công bằng m* nói, việc biến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi th*nh công viên Lê Văn Tám - dù có đụng chạm đến quyền lợi của một số người có thân nhân nằm trong đó - vẫn l* một việc phải l*m trong tiến trình đất đai tại trung tâm th*nh phố ng*y c*ng thu hẹp khi dân số ng*y c*ng gia tăng.

Chắc hẳn những người đã an nghỉ tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi cũng rộng lòng thông cảm cho lớp h*u duệ ng*y nay!

............................................

Nghĩa t* l* nghĩa t*n

S*i Gòn xưa có xa lộ Biên Hòa l* con đường huyết mạch nối liền S*i Gòn với tỉnh Biên Ho*. Đây l* xa lộ đầu tiên tại miền Nam do Hoa Kỳ đầu tư năm 1959 v* khánh th*nh năm 1961. Hãng thầu phụ trách xây dựng xa lộ Biên Hòa l* RMK-BRJ của Mỹ, họ áp dụng công nghệ hiện đại của thời đó l* đổ bê-tông to*n bộ con đường.

Xa lộ Biên Hòa d*i 31km, rộng 21m, bắt đầu từ cầu Phan Thanh Giản (nay l* cầu Điện Biên Phủ) v* kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp, Biên Ho*. Khi người Mỹ xây dựng, họ cũng t*nh đến trường hợp khẩn cấp, xa lộ có thể s* dụng l*m phi đạo dã chiến cho các loại phi cơ quân sự. Tuy nhiên, từ năm 1971 xa lộ được xây vách ngăn giữa tim đường phân đôi xa lộ th*nh 2 chiều riêng biệt.


Xa lộ Biên Hòa được Tổng thống Ngô Đình Diệm khánh th*nh ng*y 28/4/1961


Tuy nhiên, chủ đề của b*i viết n*y không nói về xa lộ Biên Hòa m* l* Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa nằm ph*a trái dọc theo xa lộ nếu đi từ S*i Gòn. Ng*y nay, nếu có dịp viếng nghĩa trang n*y, người S*i Gòn không khỏi chạnh lòng trước cảnh điêu t*n, đổ nát của những nấm mồ hoang phế tại đây.

Thế giới đã có không *t những b*i học về tinh thần hòa giải dân tộc qua những giai đoạn lịch s* khác nhau. Hoa Kỳ đã trải qua thời nội chiến phân tranh khốc liệt giữa hai miền Nam-Bắc, kéo d*i từ năm 1861 đến năm 1863.

Khi cuộc nội chiến kết thúc, t* sĩ của cả hai miền đều được an nghỉ bên nhau tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington ở thủ đô Washington DC. Mỗi năm có gần 4 triệu người Mỹ đến viếng Arlington với lòng th*nh k*nh biết ơn những người đã nằm xuống cho đất nước đứng lên. Họ ho*n to*n không phân biệt liệt sĩ l* người của quân đội miền Nam hay miền Bắc.

Năm 1863, Tổng thống Mỹ Abraham Lincohn đã khánh th*nh nghĩa trang Quốc gia với lý do th*t giản dị, “tất cả những người chết đều l* đồng b*o”. Ông Lincoln tuyên bố trong diễn văn khánh th*nh nghĩa trang ng*y 19/9/1863: “Tại đây chúng ta đoan quyết rằng cái chết không bao giờ l* vô *ch – rằng, dân tộc n*y, nhờ ơn Chúa, sẽ có sự hồi sinh mới của tự do – rằng một Ch*nh phủ của nhân dân, do nhân dân v* vì dân sẽ không thể bị phá hủy trên trái đất n*y”.

Lớp h*u duệ của những người Đức đã bỏ mình trong những tr*n mưa pháo của hạm đội Hoa Kỳ v* Anh Quốc cùng con cháu những chiến binh Anh-Pháp-Mỹ đã gục ngã trước họng súng đại liên của Đức quốc xã trong ng*y đổ bộ lên bãi biển Normandy (6/6/1944) hồi Đệ nhị thế chiến… ng*y nay đều cùng quay trở về thăm mộ bia của cha ông đến từ cả hai chiến tuyến.

Tại Trung Quốc, Nghĩa trang Ho*ng Hoa Cương của quân đội Tưởng Giới Thạch – trong đó có cả mộ phần của liệt sĩ chống Pháp Phạm Hồng Thái đến từ Việt Nam – vẫn được ch*nh phủ Trung Quốc trùng tu v* chăm sóc cẩn th*n. Ng*y nay nghĩa trang n*y đã trở th*nh di t*ch lịch s*, thu hút một lượng khách du lịch đông đảo. Họ có thể l* những người đến tham quan thắng cảnh v* cũng có thể l* h*u duệ của những t* sĩ đã nằm xuống tại đây.

Tại Việt Nam, biết bao gia đình có con em phục vụ dưới hai mầu áo khác nhau nhưng mẹ Việt Nam vẫn không hề kỳ thị trong những dịp cúng giỗ. Tình cảm thiêng liêng đó đã có từ trước 1975 v* nên tiếp tục duy trì sau ng*y giải phóng Miền Nam. Sao chúng ta không mở lòng như người mẹ bình thường đã v* đang l*m?

Nghĩa t* l* nghĩa t*n. Tại sao chúng ta không l*m được như những dân tộc khác đã l*m? Đối với những người còn sống, chúng ta vẫn có thể phân biệt ch*nh kiến nhưng đối với người đã chết, liệu sự phân biệt đối x* đó có hợp với đạo lý muôn đời của người Việt hay không?


Reply With Quote
  #10  
Old 03-05-2011, 04:51 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Join Date: Wed Apr 2010
Posts: 1,724
Default

S*i Gòn đẹp lắm, S*i Gòn ơi, S*i Gòn ơi…

Người S*i Gòn không thể n*o quên được b*i hát… S*i Gòn đẹp lắm, S*i Gòn ơi, S*i Gòn ơi… của Y Vân ng*y n*o. Trong suốt thời niên thiếu, S*i Gòn đối với tôi l* một th*nh phố tuy xa lạ nhưng lại đầy cuốn hút. Tôi chỉ biết đến S*i Gòn qua những chuyến nghỉ hè kéo d*i độ 1 hoặc 2 tháng. Tuy nhiên, năm n*o cũng v*y, các chuyến nghỉ hè tại S*i Gòn l* cả một khám phá lớn, hứa hẹn những ng*y hè sôi động đối với một thiếu niên chỉ sống tại Đ* Lạt v* Ban Mê Thuột.

Bước sang thời quân ngũ tôi đã trở th*nh cư dân thường trực của S*i Gòn v* đây cũng l* một cơ hội để tôi khám phá từ những con đường nổi tiếng cho đến những con hẻm không tên trên đất S*i Gòn. Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả l* việc đi sâu v*o nếp sống văn hóa-tinh thần của người S*i Gòn, từ ăn-chơi cho đến lối sống, cách suy nghĩ v* rất nhiều những kh*a cạnh khác trong tâm hồn người S*i Gòn.


Ngay từ năm 1953 khi di cư v*o Nam, dù định cư tại Đ* Lạt nhưng gia đình tôi có những mối quan hệ họ h*ng với những người ở S*i Gòn. Ông b* NVT sinh sống tại 158 Cống Quỳnh l* họ h*ng ph*a bên mẹ tôi. Ông T. có 3 người con gái v* một c*u út, tên Đức, nhỏ hơn tôi một tuổi. Trong số 3 người con gái có cô Loan, hơn tôi độ 2 tuổi, học Trưng Vương. Vì vai vế họ h*ng phải gọi l* cô, chú nhưng kỳ th*t 3 đứa chúng tôi vẫn đối x* với nhau như những người bạn thân thiết.

Cô Loan có biệt t*i vẽ tranh lại th*ch viết lách với bút danh Hương Kiều Loan. Cô tiếp tục hoạt động văn nghệ khi sang Mỹ. Cô có người bạn thân l* B*ch Huyền (Nga) v* đồng thời l* bạn văn chương từ thời còn học Trưng Vương. Th*t oái ăm, vì l* bạn của cô Loan nên tôi cũng coi B*ch Huyền cùng vai vế với cô Loan nên gọi l* Cô. Đến khi quen người tình mới biết B*ch Huyền lại l* vai em họ của n*ng. Đúng l* chuyện tréo cẳng ngỗng!

Tại S*i Gòn, gia đình tôi còn có người thân l* Bác Chánh, ông anh ruột của bố tôi. Hồi còn ở ngo*i Bắc, nghe nói bác Nguyễn Ngọc Giác l*m chức chánh tổng trong l*ng nên mới gọi l* Bác Chánh. Bác có 4 người con (2 trai, 2 gái). Người con cả tên Toan, ở lại miền Bắc khi gia đình bác v*o Nam. Đây l* chuyến v*o Nam thứ hai trong đời bác vì khoảng th*p niên 30 bác đã v*o theo diện phu đồn điền cho Pháp.

Sau khi di cư v*o Nam năm 1954, bác Chánh mua một căn nh* nhỏ trong khu lao động có tên l* Xóm Chiếu, Khánh Hội, thuộc qu*n 4, S*i Gòn. Xóm Chiếu v*o thời đó l* một bãi sình lầy. Người ta cất nh* s*n trên bãi lầy, nước thải trong nh* chảy thẳng xuống lớp sình bên dưới. V*o những trưa hè, sình lầy dưới đất bốc lên một mùi khó chịu. V*o những ng*y nước triều lên có thể nhìn thấy nước dâng gần sát s*n nh*.

Những người ở Xóm Chiếu vốn đã quen với sinh hoạt h*ng ng*y nên cuộc sống vẫn cứ tiếp tục trôi, *t người để ý đến môi trường sống chung quanh. Tuy nhiên, đối với những người từ phương xa đến như tôi thì đây l* một trải nghiệm khó quên khi phải tiếp xúc với một trong những xóm lao động tồi tệ nhất S*i Gòn hoa lệ.

Xóm Chiếu, Khánh Hội, l* đất của phần đông những kẻ bụi đời, những tay anh chị giang hồ, những cô gái điếm, những đứa bé đánh giầy, những kẻ cờ gian bạc l*n, những ‘cao thủ’ chuyên h*nh nghề móc túi hay… đá cá lăn dưa. Nói chung, đây l* xóm lao động điển hình của Hòn ngọc Viễn Đông.

Thế nhưng, từ Khánh Hội chỉ cần vượt qua một cây cầu l* mọi sự đổi khác. S*i Gòn hiện ra như một n*ng tiên, ‘xiêm y lộng lẫy’. Đường Bonard, Catinat, Charner lúc n*o cũng đầy ắp người v* xe cộ d*p dìu qua lại.

Như v*y, bức tranh S*i Gòn xưa hiện lên hai mảng m*u sáng-tối rõ rệt. Phải chăng đây cũng l* tình trạng của đa số những th*nh phố lớn trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á m* tôi đã từng đi qua: Manilla, Kuala Lumpur, Jakarta, Bangkok… ngoại trừ Singapore.

Nổi b*t nhất S*i Gòn xưa l* đường Catinat, sau đổi th*nh Tự Do dưới thời Đệ nhất Cộng hòa v* từ 1975 mang tên Đồng Khởi. Ngay v*o cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, con đường n*y đã được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn v*t diễn ca xuất bản tại S*i Gòn năm 1906:

Nhứt l* đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nh* phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các c*a h*ng bán lịch thanh tốt đều
Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế d*p dều [sic] phô trương
Đồ s*nh, đồ cẩn, đồ đương [đan]
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi

… Nh* in, nh* thuốc, nh* ch*,
Nh* h*ng ăn ngủ với nh* lạc son [xoong]

… Phong lưu cách điệu ai bằng
Đường đi trơn láng, đền [đèn] giăng sáng lòa
Thứ năm, thứ bảy, thứ ba
Với đêm chúa nhựt hát nh* hát Tây…

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat v*o thời kỳ đầu Pháp thuộc l* nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được th*nh l*p từ rất sớm. Sớm nhất l* hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, ph*a bờ sông, nay l* khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nh* h*ng Majestic ph*a bên kia đường.


Đường Catinat,
sau đổi l* Tự Do v* cuối cùng l* Đồng Khởi


Sau Denis Frère l* hiệu thuốc tây đầu tiên của cả S*i Gòn nằm ở góc Catinat v* Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân l* Lourdeau, sau l*m Xã trưởng S*i Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân v*t khá nổi tiếng của đất S*i Gòn xưa, từng l*m Phó Chủ tịch Phòng Thương mại S*i Gòn v* Phó Chủ tịch Hội đồng Quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine).

Holbé từng điều chế ra một loại biệt dược có tên “Gouttes Holbé”, loại thuốc cai nghiện d*nh cho những tay hút á phiện muốn giã từ ‘l*ng bẹp’. Về sau, nh* thuốc tây về tay Renoux, rồi Solirène v* mang tên vị chủ nhân n*y trong một thời gian d*i, trước khi bị thay thế bởi nh* h*ng Givral còn hoạt động đến ng*y nay.

‘Bót Catinat’, nằm ở góc đường Nguyễn Du-Tự Do, gần Nh* thờ Đức B*, có lẽ l* một địa danh ‘khó quên’ trong ký ức của người S*i Gòn, nhất l* những "người anh em bên kia chiến tuyến" trong thời thực dân Pháp. Nh* văn cách mạng Trần Bạch Đằng đã mô tả:

“Ông trời ở Catinat vuông vức, vì tù nhân ngó lên trên, chỉ thấy một khoảng mây xanh vuông. Trời c*ng trưa, trong khám c*ng nóng dữ dội. Hơi nóng từ sân ximăng bốc lên hừng hực, 400 con người nép sát v*o tường, tìm một miếng bóng mát mỏng manh, ba culoa đen nghẹt. Từ trong hai phòng công cộng 7 v* 12, hơi người nồng gắt dội ra. Người ta nằm sấp như cá mòi trong đó, mồ hôi tuôn ra như tắm.

Trời nắng cũng khổ m* trời mưa c*ng khổ hơn nữa. Sân khám không có nóc, mỗi lần mưa l* tù ướt như chuột. Nhất l* ban đêm, khi mưa xuống ai cũng ngồi chụm đầu v*o nhau m* chịu tr*n. Những người khỏe mạnh thì gắng chịu đựng. Nhiều anh chị em còn đang thời kỳ lấy khẩu cung, mình mẩy thương t*ch lở lói, phải sống vất vả như v*y nên không hôm n*o l* không có người chết. Thực dân Pháp đã biến bót Catinat th*nh một lò sát sanh, nơi m* mạng sống con người bị coi như cỏ rác”.

B*i thơ dưới đây mô tả bót Catinat của ‘m*t thám’ Phòng Nhì Pháp thời thực dân đô hộ:

Catinat, Catinat
Dã man, bỉ ổi, xót xa não nùng
Hỡi ai dạ sắt lòng trung
Đứng lên! Uất h*n thấm dòng máu tươi
Ngo*i kia dưới ánh mặt trời
Ngo*i kia th*nh phố của người văn minh
Cách nhau một bức tường th*nh
M* đây vẽ lấy vạn hình đau thương
Catinat, một khám đường.
M* sừng sững trước giáo đường Giêsu!

Đề c*p đến sinh hoạt của cư dân S*i Gòn trên đường Catinat, không thể không nói đến nh* h*ng Continental, tuy sinh sau đẻ muộn hơn (năm 1880), nhưng bề d*y lịch s* của nó thì không một cơ sở dịch vụ, thương mại n*o sánh kịp. Trong khi nh* hát Tây ở cạnh đó mãi đến ng*y 1/1/1900 mới được khánh th*nh v* sinh hoạt diễn ra 4 ng*y mỗi tuần thì từ đầu th*p niên 1880, nh* h*ng-khách sạn Continental l* nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp ch*nh quốc trên đường công tác xứ thuộc địa. Đây cũng l* chỗ tụ hội của những du khách trên đường h*nh hương sang Đế Thiên- Đế Th*ch của xứ chùa Tháp.

Chủ nhân đầu tiên của Continental l* Pierre Cazeau, nh* sản xuất v*t liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Người ta kể rằng ch*nh vị công tước n*y l* chủ nhân của Lầu Ông Ho*ng ở Phan Thiết, nơi chứng kiến tình s* của thi nhân H*n Mạc T* v* người đẹp Mộng Cầm (?).


Năm 1930, nh* h*ng có chủ mới l* Mathieu Franchini, người đã điều h*nh th*nh công Continental trong một thời gian d*i, cho đến ng*y quân đội Pháp rút về nước sau khi thất tr*n Điên Biên Phủ. Franchini xuất thân l* dân anh chị người đảo Corse, Pháp.

Franchini trốn xuống t*u thủy l*m bồi b*n (đại khái chuyện cũng giống như Bác Hồ lên t*u tìm đường cứu nước!) v* mò sang Việt Nam v*o đầu th*p niên 1920. Người dân thuộc địa vốn trọng Tây, dù đó l* một tên vô danh tiểu tốt hoặc vô lại, nhưng đã sang đến Đông Dương vẫn được nể trọng v* xem như một ông lớn.

Franchini được một Đốc phủ sứ miền Tây gả con gái v* được hưởng thừa kế h*ng ng*n mẫu ruộng. Chỉ v*i năm sau, vợ chết, gã bèn bán hết điền sản để t*u khách sạn nổi tiếng Continental ở trung tâm S*i Gòn. Franchini vừa kinh doanh, vừa l*m ông trùm của những tên mafia đảo Corse v* th*nh phố cảng Marseille tại Đông Dương.




Sự nổi tiếng của Continental không xuất phát từ các chủ nhân m* từ những diễn biến lịch s* diễn ra trên đất S*i Gòn xưa. Trước thế chiến thứ hai (1939-1945), nó từng được đón tiếp hai nhân v*t nổi tiếng trong thế giới văn chương l* thi h*o Ấn Độ Rabindranath Tagore (giải thưởng Nobel văn chương năm 1913) v* nh* văn Pháp André Malraux, tác giả của La condition humaine (Thân ph*n con người) xuất bản năm 1933, sau l*m Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969).

Trong buổi “giao thời” Pháp đi, Mỹ đến, căn phòng số 214 của khách sạn Contiental còn l* nơi ‘ngự trị’ của Graham Greene, nh* văn người Anh đã thai nghén v* cho ra đời quyển tiểu thuyết nổi tiếng The Quiet American (Người Mỹ trầm lặng) ngay trong căn phòng n*y.

Truyện xoay quanh 3 nhân v*t: Thomas Fowler, người Anh, ký giả, trạc 50 tuổi; Alden Pyle, người Mỹ, nhân viên Phái đo*n Viện trợ Mỹ, khoảng 30 tuổi, v* một phụ nữ Việt tên Phượng, tuổi độ 20. Fowler đến S*i Gòn, ở tại Hotel Continemtal v* bắt nhân tình với Phượng. Anh Mỹ trẻ Pyle ở Hotel Majestic ở cuối đường Catinat, ph*a bờ sông S*i Gòn.

The Quiet American đưa người đọc đến một ‘khúc quanh lịch s*’: Phượng bỏ người tình gi* ở Hotel Continental để qua Hotel Majestic sống với anh Mỹ trẻ. Tác giả đã để cô gái Việt thay tình nhân như thay áo trong khi anh ký giả Fowler cũng không có phản ứng gì đáng kể về việc anh bị bạn Mỹ Pyle cướp mất Phượng.

Graham Greene dựng lên nhân v*t Pyle l* một người say mê chủ thuyết được mệnh danh l* “lực lượng thứ ba” tại những thuộc địa của thực dân. Trong tiểu thuyết The Quiet American, vụ đánh plastic ở trước Khách sạn Continental l* do lực lượng quân sự Bình Xuyên của Tướng Trịnh Minh Thế thực hiện chứ không phải do Việt Minh.


Vụ nổ trước khách sạn Continental trong phim The Quiet American
(Đạo diễn Philip Noyce d*n dựng tại Saigon, năm 2002)


Ngay sau vụ nổ, Pyle bị ám sát, xác thả dưới sông gần cầu Dakao, không biết l* Cầu Bông hay Cầu Kiệu (?). Người ta cũng không biết phe n*o giết Pyle v* tại sao anh Mỹ lắm chuyện ấy lại bị giết.

Theo tôi, ngo*i những chuyện không đúng về tình hình Việt Nam, Graham Greene có vẻ như quá coi thường người Việt. Green viết: ‘To take an Annamite to bed with you is like taking a bird; they twitter and sing on your pillow.’ (Đưa chị M*t v*o giường với mình như đưa con chim, họ r*u r*t v* họ hát trên gối). Đến năm 1952 m* còn dùng danh từ “Annamite” để gọi người Việt Nam thì đây l* việc cố ý hạ nhục người Việt.

Thường thì những văn sĩ sau khi viết về một đất nước không phải l* nước mình, viết về một dân tộc không phải l* dân mình, thường đưa bản thảo cho người nước đó đọc trước để họ chỉ cho những chuyện viết sai. Green chắc chắn không hề l*m điều đó. Trong truyện ông ta viết Dakow thay vì Dakao, Tanyin thay vì Tây Ninh. Ông đặt tên cho một phụ nữ Việt trong truyện l* Mei, người Việt không bao giờ có cái tên kỳ lạ đó.

Trở lại với Continental, khách sạn n*y đã đi v*o văn chương thế giới qua The Quiet American, nhưng không chỉ có thế, cho dù như thế l* đã quá đủ để tự h*o. Về lĩnh vực báo ch*, Continental còn tiêu biểu cho cả con đường Catinat. Cụm từ Radio Catinat hay Radio Catinat một đèn phổ biến trong giới báo ch* S*i Gòn đầu th*p niên 1950 xuất phát từ ch*nh nh* h*ng n*y. Sở dĩ có từ một đèn l* vì v*o những th*p niên 1940-1950, hầu hết máy thu thanh còn s* dụng đèn điện t*, ai có máy 2, 3 đèn trở lên l* thuộc hạng sang, máy 1 đèn thuộc về giới bình dân, vì thế Radio Catinat một đèn mang chút ý nghĩa châm biếm.

Cho đến giờ, vẫn có nhiều người không hề biết nh* h*ng khách sạn Continental có một khuôn viên rất rộng ph*a bên trong. Chung quanh sân có những cây sứ thuộc loại ‘cổ thụ’ có đến hằng trăm năm tuổi với những mấu sẹo lồi lõm như cội mai gi*. Phải đến năm 1993 tôi mới phát hiện sân vườn n*y giữa trung tâm S*i Gòn khi có dịp đến thăm cơ ngơi của b* Thu, giám đốc khách sạn Continental. B* Thu vốn l* một th*nh viên trong đo*n Saigon Tourist đi thăm xứ cờ hoa năm 1993 (Xem Chương 8: Thời mở c*a).

Nh* h*ng kỳ cựu sau Continental l* Majestic, th*nh l*p năm 1925, nằm ở góc đường Catinat v* Luro (sau l* Cường Để, nay l* Tôn Đức Thắng) nhìn ra bờ sông S*i Gòn, do một thương nhân người Hoa gi*u có v* nổi tiếng nhất nhì S*i Gòn thời bấy giờ l* Hui Bon Hoa (chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư Pháp.

Cạnh khách sạn Majestic l* rạp hát cùng tên, ngó mặt ra đường Catinat. Ngược lên ph*a trên, v* những th*p niên trước ng*y Pháp về nước, những người thuộc lớp trước 1950 trở lên sẽ không quên hiệu bán đĩa hát Ménestrel (gần nh* h*ng Bông Sen ng*y nay), rạp Catinat (nằm trên một con hẻm đâm ra đường Catinat), nh* h*ng Brodard, Givral, La Pagode…

Qua bên kia đường Bonard (Lê Lợi), cạnh nh* thuốc Tây Solirène (sau l* nh* h*ng Givral), l* rạp hát Eden, tiệm sách Albert Portail (nay l* Nh* sách Ngoại văn Xuân Thu), nh* thuốc Tây Pharmacie de France (sau l* La Th*nh), nh* h*ng La Pagode, cũng từng l* nơi gặp gỡ của báo giới S*i Gòn.


Góc đường Catinat (Đồng Khởi) v* Bonard (Lê Lợi)


Đi v*o lịch s* của những tên đường S*i Gòn ng*y xưa ta sẽ tìm được nhiều chi tiết thú vị. Chẳng hạn như nhìn bảng tên đường l* có thể hình dung được từng giai đoạn lịch s*. Tên đường De Lagrandière (sau n*y đổi l* Gia Long v* kể từ 1975 l* Lý Tự Trọng) ch*nh l* tên ‘hải tặc’ đã kéo pháo thuyền v*o Vĩnh Long buộc kinh lược Phan Thanh Giản ký h*ng ước nạp nốt ba tỉnh miền Tây năm Đinh Mão 1867. Đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ) cũng l* ‘hải tặc’ đánh th*nh Gia Định khiến tướng Nguyễn Tri Phương bị thương năm Tân D*u 1861!


Đường Charner, sau đổi l* Nguyễn Huệ


V*o những dịp nghỉ hè, tôi thường dạo chơi đường phố S*i Gòn để nhìn cuộc sống vừa hối hả lại vừa ung dung. Hối hả đối với những người lo mưu sinh h*ng ng*y nhưng lại ung dung đối với những người ngồi quán café, quán nước.

Chỉ cần một ly ‘xây chừng’ hoặc ‘bạt sỉu’ l* có thể ung dung ngồi nhìn thiên hạ tất tả qua lại ngay trước mắt. C* phê bình dân thì pha bằng vợt, có khi lại gọi l* c* phê ‘dớ’, chữ vớ đọc theo giọng S*i Gòn! Ở S*i Gòn hồi đó, người lớn tuổi vẫn còn giữ thói quen uống c* phê đổ ra đĩa, có lẽ vì nóng quá chăng? Có người lại còn giữ kiểu ngồi ‘nước lụt’, hai chân bỏ cả lên ghế trong quán c* phê.

Phải th*nh th*t nhìn nh*n, đây l* kiểu ngồi ‘mất thẩm mỹ’ nhất của người Việt mình, đặc biệt đối với phụ nữ khi họ ngồi ‘chò hỏ’!

Cho đến ng*y nay, kiểu ngồi n*y vẫn còn tồn tại. Bằng chứng cụ thể nhất l* khi những người Việt đi du lịch hay lao động ở nước ngo*i, ngay tại phi trường đã có nhiều người ‘squat’ một cách tự nhiên trước những cặp mắt ngạc nhiên của người nước ngo*i. Dân ta biết đến bao giờ mới từ bỏ được thói quen xấu n*y? Thế mới biết, chừng n*o chưa bỏ được những điều nhỏ nhặt như ‘văn hóa ngồi xổm’ thì hãy khoan nói đến ‘nếp sống văn minh, hiện đại’.

Người S*i Gòn có cái thú uống c* phê, đọc báo v*o buổi sáng. Thói quen n*y cho đến ng*y nay vẫn còn được duy trì. Bây giờ, buổi sáng cứ v*o hệ thống các c*a h*ng c* phê Trung Nguyên l* thấy ngay: quá n*a khách uống c* phê ngồi đọc báo trước khi lo việc mưu sinh h*ng ng*y.

Nhiều quán c* phê cung cấp báo cho khách đến uống, thường l* hai tờ nhiều người đọc nhất – Tuổi Trẻ v* Thanh Niên. Chắc hẳn chi ph* về báo ch* cũng như Wifi đều đã được t*nh v*o giá th*nh của ly c* phê. Xem ra vẫn có lợi cho cả hai, khách cũng như chủ, m* lại thể hiện được phương châm ‘khách h*ng l* Thượng đế’.

S*i Gòn thiên hình vạn trạng, từ ăn cho đến chơi, từ nghỉ ngơi cho đến l*m việc. S*i Gòn trong những th*p niên 60-70 l* một th*nh phố chiến tranh với sự hiện diện rất rõ nét của quân đội. Trên đường phố, xe jeep, xe dodge, xe GMC hòa nh*p cùng những dòng taxi Renault sơn hai m*u v* những chiếc xe nh* mang đủ các nhãn hiệu phương Tây như Simca, Citroen, Ford, Chrysler, Mercedes, Volkswagen…

Nói đến S*i Gòn không thể n*o bỏ qua những chiếc xe gắn máy đã gắn bó với mọi người từ năm 1954 . Thời đó ngo*i miền Bắc l* chiếc xe đạp . Bảo Ninh, nh* văn miền Bắc, kể lại H* Nội ng*y đó qua truyện ngắn Thời của xe máy:

“Những năm 50, sau giải phóng Thủ đô, khi tôi còn nhãi ranh, lượng xe đạp ở H* Nội còn *t hơn số đầu xe hơi thời nay. Ngoại trừ v*i tuyến xe điện, v* thưa thớt, ch*m rề những chiếc x*ch lô, dân tình thời ấy "tham gia giao thông" chủ yếu bằng cặp giò.

Dọc một phố lớn như phố H*ng Đẫy chúng tôi m* nh* ai xe đạp mác gì mọi người đều tỏ. Gi*u nhất phố l* gia đình ông Ích Lợi, th*nh phần tư sản, chục người chung một chiếc Pegeout với một chiếc Sterling. Oai nhất phố l* ông giáo Bình, công chức lưu dụng, đương quyền hiệu phó Trường Albert Saraut (thời ấy còn chưa đóng c*a), có chiếc Solex đen xì với cái bầu máy ngộ nghĩnh hình trụ rất hiếm khi được ăn xăng v* cất tiếng. Thường xuyên để cỗ xe ở chế độ v*n h*nh bằng mồ hôi, ông giáo gi* gò lưng ngoáy người è cổ đạp. Dân phố kêu thầy bằng thầy Bình xô-lếch, hay đơn giản, thầy Bình bịch.

Dần dần Nh* nước cho nh*p xe đạp của ‘phe ta’ về: Tiệp Khắc, Đông Đức, Liên Xô, Trung Quốc v* bản thân Việt Nam cũng đã lần hồi tự lực sản xuất được. Không nhiều lắm, chỉ đủ để phân phối cho cán bộ xếp h*ng t* t* lần lượt theo chức vụ, theo thâm niên.

Hồi bấy giờ, ở nông thôn thì nh* nh* đi bình dân học vụ, còn ở H* Nội thì nh* nh* đi t*p xe. Từ ch*p tối tới canh khuya, tại những khúc phố rộng rãi, sáng đèn bên Bờ Hồ, ở vườn hoa Canh Nông, ở quảng trường Ba Đình, dọc đường Cổ Ngư, trẻ con, người lớn, đ*n ông, đ*n b* r*u r*t thay nhau lên yên xuống yên, người thì ghì cứng ghi đông v* loạng choạng đạp, người thì rình rịch chạy sau đỡ, luýnh quýnh ngượng ng*p, ngã bổ nh*o, ngã chỏng gọng, rất vui mắt.

Tới khoảng năm 1960 thì H* Nội đã ch*nh thức l* một th*nh phố với nền văn minh xe đạp. Không phải chỉ vì nườm nượp xe đạp m* còn vì xe đạp đã th*nh sở hữu tối cao của mỗi nh*, một chiếc xe đạp nói lên vị thế xã hội của một gia đình”.



H* Nội th*p niên 60


Tại miền Nam, xe gắn máy thâm nh*p qua nhiều giai đoạn, thế hệ xe n*y mối tiếp loại xe xe sau, hiện đại hơn v* mẫu mã cũng bắt mắt hơn. Trước hết l* thời của Mobylette v*ng v* Velo Solex. Nói chung, cả hai loại n*y đều có hình dáng như chiếc xe đạp đầm nhưng lớn hơn v* có gắn bộ máy v*n h*nh chạy bằng xăng pha nhớt.



Mobylette v*ng


Tốc độ của Mobylette có thể lên tới trên 60 km/giờ nếu còn mới. Tiện lợi ở chỗ có thể chuyển sang đạp bằng đôi chân khi bất ngờ hết xăng dọc đường. Tiện nghi ở chỗ xe có hai ‘phuộc nhún’ ph*a bánh trước. Còn Velo Solex thì được các b*, các cô, nhất l* giới trẻ ưa th*ch. Chiếc xe có dáng thanh mãnh hơn Mobylette với bộ máy có cần điều khiển nằm ngay ph*a trước. Tuy hơi nặng đầu nhưng bù lại, ngồi trên Solex người phụ nữ hình như đang bay lượn theo t* áo d*i trong gió!

Cuối th*p niên 1950, Mobylette v* Velo Solex đã phải nhường chỗ cho các loại xe của Ðức như Goebel, Puch, Sach với các tiện nghi như còi điện, ống nhún cả ở hai bánh v* xe có thể chạy nhanh hay ch*m bằng cách chuyển giữa 3 số. Tất cả những loại xe gắn máy n*y giá thường chỉ gấp ba chiếc xe đạp tốt hiệu Peugoet, Alcyon hay Dura nên giới trẻ thuộc các gia đình trung lưu đều có thể t*u được.



Velo Solex


Cũng trong thời gian n*y, một loại xe gắn máy của Ý cũng được giới trẻ mê th*ch nhưng không có mấy ai có được vì giá cao hơn các loại xe gắn máy khác. Ðó l* chiếc Vespa Ý v* sau đó l* Vespa Pháp với giá rẻ hơn nhưng máy móc không tốt bằng của Ý. Giá một chiếc Vespa Ý khoảng 17, 18 ng*n trong khi một tô phở khoảng 5 đồng v*o thời đó. Có thể nói, Vespa l* sự đột phá với một bánh xe ‘sơ cua’ để đi những chuyến đường d*i như ra t*n Ô Cấp (Vũng T*u).

Chiếc Vespa (tiếng Ý có nghĩa l* con ong) có hai yên xe, một cho người lái v* một cho người ngồi sau. Hai yên xe đó rất sát nhau nên người ngồi sau gần như kề v*o lưng người ngồi trước một cách tự nhiên. Thế ngồi của các cô gái S*i Gòn trên chiếc Vespa hồi đó l* hai chân để một bên, không ngồi hai chân hai bên như sau n*y. Ch*nh cái thế ngồi hai chân một bên ấy đã đẩy thân hình cô gái nép sát người lái.

Còn gì thân yêu v* trìu mến cho bằng cảnh đôi trai gái trên xe Vespa. Để cho được vững thì b*n tay mặt của cô gái đã tì lên ph*a sau yên người lái để cho cánh tay được thẳng m* chống đỡ cho cả thân hình. Hai chân cô thường vắt chéo lên nhau tạo cho cô cái dáng khép nép duyên dáng đáng yêu biết mấy trong những vạt áo d*i nhấp nhô theo gió.

Nếu đã thân nhau, cô gái có thể tựa hẳn v*o người lái, tì hẳn cái cằm của cô lên vai trái của người lái để m* thì thầm trò chuyện với nhau trên những con đường cây d*i bóng mát. Ở những đôi tình nhân n*y, b*n tay v* cánh tay phải của cô lại tì trên đùi người yêu, để mỗi khi nếu có gì không bằng lòng cô lại véo lên đùi trừng phạt...



Vespa


Vespa cũng có đối thủ, đó l* Lambretta. Có tin đồn hãng nh*p cảng độc quyền Lambretta trên đường Trần Hưng Ðạo l* của b* Ngô Ðình Nhu nhưng Lambretta cũng không thể lấn át được với Vespa vì kiểu dáng vẫn không độc đáo bằng Vespa m* lại kềnh c*ng hơn.

Cuối năm 1968 l* một cuộc cách mạng xe gắn máy tại S*i Gòn với sự xuất hiện của xe Honda đến từ Nh*t Bản với 2 kiểu d*nh riêng cho nam v* nữ. Nam thì có SS50, S50 v* nữ thì có Honda Dame C50.

Cũng v*o năm n*y, từ Ban Mê Thuột, tôi đã t*u được một chiếc Honda SS50 với giá 36.000 đồng bằng tiền đi l*m cho phái đo*n y tế Milphap. Một kỷ niệm khó quên với chiếc xe gắn máy mới mua không liên quan đến bản thân tôi m* lại d*nh dáng đến bố tôi. Một hôm ông đi th* xe trong công viên v* bị ngã một cái nên thân. Số l* Honda SS50 đòi hỏi sự kết hợp giữa tay phải bóp embraya v* chân trái điều khiển cần số.

Tổng Cục Tiếp Tế, Bộ Kinh Tế, của nội các Nguyễn Cao Kỳ năm 1968 *o ạt nh*p cảng xe gắn máy Honda về bán trả góp cho công chức v* quân nhân. Thời gian đầu, phản ứng của dân S*i Gòn đối với Honda có phần dè dặt. Người ta còn chê “xe gì m* l*m bằng mủ” vì Honda có vè v* b*ng xe l*m bằng mủ cứng để xe nhẹ hơn nên dù máy cũng chỉ 49cc m* tốc độ lên tới 70, 80 km/giờ.

Honda


Chỉ sau *t tháng sau, Honda đã trở th*nh món h*ng được giới tiêu thụ săn đón, mua đi bán lại với giá cả tăng vùn vụt vì thấy loại xe n*y tiện nghi hơn các loại gắn máy trước rất nhiều, tiếng máy nổ êm vì máy l* loại ‘4 thì’.

Thêm v*o đó, Honda còn có còi điện chạy bằng bình ắc quy. Tuy còi xe có hình dáng nhỏ bé nhưng kêu rất vang. Ngo*i ra còn có hai cặp đèn hiệu (signal) trước v* sau với hai k*nh chiếu h*u hai bên tay lái.

Khi v*n h*nh lại có ba số (loại C50) hay bốn số (loại SS50). Hơn nữa xe Honda Dame C50 lại bán tự động nên rất dễ cho các b* các cô s* dụng. Ngồi trên chiếc Honda nhỏ bé nhưng người s* dụng thời đó lại có cảm tưởng như đang s* dụng xe hơi! Chỉ một năm sau các loại gắn máy của Nh*t đã tr*n ng*p th*nh phố, không chỉ có Honda m* còn Suzuki, Yamaha, Bridgestone, Kawasaki.

Phong tr*o chơi xe gắn máy của tuổi trẻ S*i Gòn thời đó không chỉ l* tháo bỏ ống hãm thanh m* còn “xoáy xy lanh” cho lòng phân khối của xe lớn hơn để đua nhau trên xa lộ Biên Hòa. Từ đó mới có danh từ ‘anh hùng xa lộ’ hay ‘yên hùng xa lộ’ để chỉ những tay đua bặm trợn, liều lĩnh phóng xe xả hết tay ga, luồn lách qua các h*ng xe đang chạy, kể cả chui qua những chiếc xe be đang kéo những cây gỗ d*i thượt.

Nhiều anh hùng còn ‘l*m xiếc’ trên chiếc Honda như đứng thẳng trên yên xe hay nằm dọc trên chiếc xe đang chạy với tốc độ cao. Người S*i Gòn mỗi khi thấy những ‘anh hùng xa lộ’ n*y thường hốt hoảng tránh xa vì tai nạn thê thảm bất cứ lúc n*o cũng có thể xẩy ra.

Ng*y nay, giới trẻ còn dùng thu*t ngữ ‘đi bão’ để chỉ những cuộc đua xe trên đường phố còn khủng khiếp hơn thế hệ cha anh hồi xưa. Ngo*i việc xoáy xy-lanh để tăng tốc độ, chúng còn tháo hết b*ng v* vè xe, th*m ch* còn không dùng đến thắng xe để… đến nh* thương cho th*t nhanh!

V*o thời ấy, dân số S*i Gòn chỉ mới tròm trèm ba triệu người v* số xe gắn máy cũng chỉ trên 700 ng*n chiếc nên đường phố còn rộng hênh thang. Trai gái có thể chạy vòng vòng hết Bonard ra Catinat, qu*nh ra bờ sông, ghé v*o Point des Blagueurs (Nh* h*ng Cột cờ Thủ Ngữ) để “uống ly chanh đường cho thấy môi em ngọt” hay ghé quán kem H* Nội, Mai Hương để nhìn trai gái tấp n*p đi lên đi xuống dọc theo con phố Bonard. Lúc ấy tuổi trẻ có danh từ gọi l* “đi bát phố Bô Na”.

Xin tr*ch thêm một đoạn nữa của Bảo Ninh ở H* Nội viết về lần đầu tiên được thấy xe Honda:

Xe máy của “nền văn minh Mỹ-ngụy", tôi được thấy lần đầu tiên năm 1970 tại khu gia binh căn cứ biệt k*ch Đắc Xiêng. Một tay thiếu úy [ngụy] qua đêm ở nh* vợ, nghe pháo k*ch liền hộc tốc lên xe máy lao về đồn. Nhưng vừa phóng ra khỏi khoảnh sân trước nh* thì y d*nh đạn AK, văng khỏi yên. Chiếc xe qu*t mạnh xuống đường.

Khi chúng tôi xộc tới tay thiếu úy đã hết giãy, nhưng động cơ chiếc xe vẫn chạy, bánh sau xoay t*t. Tôi không nhớ chiếc xe ấy mác gì, chỉ nhớ máy của nó tiếng rất giòn lại rất khẽ. Tiểu đội trưởng Thoại của tôi vực chiếc xe d*y, nói đùa: "Máy thế n*y mới l* máy chứ, nghe cứ như l* mợ nó rên lên trong lòng c*u nó!". Chiếc xe đột ngột rống to, vùng khỏi tay Thoại, chồm ngược, đâm bổ v*o tôi…

***

Thủ đô S*i Gòn ng*y ấy lúc n*o cũng đ*m sắc m*u áo l*nh. Từ những đại lộ ch*nh cho đến hang cùng ngõ hẻm, ở đâu cũng thấy l*nh. Họ mang nhiều sắc áo, từ rằn ri cho đến bộ quân phục truyền thống của bộ binh v* sau n*y đổi th*nh bộ 4 túi, áo bỏ ngo*i quần.

Loại được mệnh danh l* ‘l*nh kiểng’ như tôi h*ng ng*y đi đi về về giữa Trường Sinh ngữ Quân đội (TSNQĐ) v* nh* trên chiếc Honda SS50, tối thỉnh thoảng v*o trường ứng chiến, khi n*o tình hình chiến sự căng thì cấm trại 100%.

Ứng chiến hay cấm trại trong trường chỉ l* một hình thức họp mặt tán gẫu, đánh b*i hay học thêm chứ nếu VC tấn công có lẽ chẳng biết xoay xở ra sao dù trường có phát cho mỗi người một khẩu Carbine với v*i chục viên đạn.

Lâu lâu TSNQĐ lại có tên trong danh sách tuần tra khu vực qu*n 1 phối hợp cùng quân cảnh, cảnh sát đi lêu bêu ngo*i đường nhìn thiên hạ qua lại. Th*t khôi h*i: anh l*nh quân cảnh v* anh cảnh sát đeo súng ngắn còn anh sĩ quan TSNQĐ lại… sách khẩu Carbine! Một toán tuần tra như v*y thì l*m thế n*o để phân biệt TA v* ĐỊCH giữa cảnh phố phường nhộn nhịp như mắc c*i?

Sau n*y ngồi nghĩ lại, quân lực VNCH có quá nhiều các động tác thừa nhưng lại cũng không *t những việc cần thì không l*m. Đa số các ông Tướng thì quên hẳn nhiệm vụ ch*nh của mình l* bảo vệ tổ quốc. Các ông chỉ tìm cách nhảy v*o ch*nh trị, quên hẳn chuyện nh* binh. Len lỏi v*o ch*nh trường được rồi l* bắt đầu theo bè, kết đảng, đấu đá lẫn nhau vì danh vọng v* vì quyền lợi riêng tư. Phải tự trách mình trước khi trách người.

S*i Gòn ngo*i những l*nh ‘cơ hữu’ còn có sự xuất hiện của những người l*nh tr*n về nghỉ phép, họ thuộc đủ mọi binh chủng dữ dằn nhất như Nhảy dù, Biệt động quân, Biệt k*ch dù, Thủy quân lục chiến. Họ từ các mặt tr*n nóng bỏng, từ những nơi thần chết c*n kề. Những người l*nh tr*n đó đi phép về S*i Gòn đa số đều mang một tâm trạng bất mãn trước cảnh ăn chơi xa hoa của th*nh phố.

Hồi đó, đã có lúc tôi nghĩ bức tượng người l*nh thủy quân lục chiến đặt trước Quốc hội hình như đang xung phong tấn công mấy ông dân biểu ‘xôi thịt’ ngồi trong đó! L*nh tr*n như lạc lõng giữa một S*i Gòn phù phiếm nên thường nổi loạn bằng những cuộc ăn nh*u bất cần đời. Có khi những cuộc nh*u chỉ trả tiền bằng… trái lựu đạn đã rút chốt để trong ly rượu! Gặp những thực khách ‘liều mạng’ loại n*y, chủ quán thường áp dụng chiêu ‘dĩ hòa vi quý’ vì ‘tránh voi đâu xấu mặt n*o’!

Đó l* S*i Gòn thời chiến. S*i Gòn của những năm ‘xôi đ*u’, của v*ng thau lẫn lộn . Người ta hối hả sống v* l*m gi*u trước khi bị d*nh những mảnh đạn pháo k*ch vô tình. Hòn ngọc Viễn Đông đã thấm không biết bao nhiêu máu của người S*i Gòn cho đến ng*y 1975!

Để chấm dứt đoạn viết về S*i Gòn đẹp lắm, S*i Gòn ơi, S*i Gòn ơi… xin mượn 2 câu thơ dưới đây của Bùi Giáng, một nh* thơ ‘điên’ trong khi mọi người ‘tỉnh’. Nhưng cũng có thể nh* thơ ‘Gi*ng Búi’ hay ‘Bùi Giáng bán dùi’ lại rất ‘tỉnh’ v*o lúc mọi người đang ‘điên’ vì cuộc sống ở S*i Gòn trong thời kỳ tao loạn:

S*i Gòn Chợ Lớn rong chơi,
Đi lên, đi xuống đã đời du côn


Reply With Quote
Reply

Thread Tools
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On

Forum Jump

VKA


All times are GMT +7. The time now is 04:06 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.2
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.