Diễn đàn chó thuần chủng Việt Nam

Go Back   Diễn đàn chó thuần chủng Việt Nam > Giải trí > Chuyện Đông - Tây

VKA

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 06-09-2010, 07:30 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default Dòng máy ảnh Hasselblad

Hasselblad H3D II - máy ảnh 39 Megapixel


H3D II - dòng D-SLR mới nhất của Hasselblad, giống như một "con khủng long" trong làng máy ảnh số, đơn giản là bởi tất cả các thông số liên quan đến nó như độ phân giải, kích thước của cảm biến và giá tiền đều thuộc vào hàng "vĩ đại" nhất hiện nay.


Hasselblad H3D II sở hữu những thông số thuộc hàng "đỉnh của đỉnh".
Ảnh: Letsgodigital.

Mấy năm trước đây, Hasselblad, hãng máy ảnh có tuổi thọ trên 50 năm đến từ vùng Bắc Âu lạnh giá, đã tung ra dòng máy ảnh số ống kính đơn đầu tiên được trang bị cảm biến ảnh có độ phân giải lên tới 39 Megapixel mang tên H2D. H3D II ra mắt lần này được xem là kẻ kế tục xứng đáng cho H2D, khi ngoài cảm biến 39 Megapixel có kích thước lớn nhất thế giới (48 x 36 mm), máy còn được cải tiến khá nhiều so với đời trước.


So với H2D, màn hình của H3D II lớn hơn (3 inch so với 2,2 inch của H2D), vừa giúp hiển thị hình ảnh rõ ràng hơn, vừa hứa hẹn sẽ giảm đáng kể lượng điện năng tiêu thụ, nhờ có một bộ tản nhiệt được gắn sẵn trong máy. Hệ thống danh mục điều chỉnh của chiếc máy ảnh “khủng long” này cũng đã được tân trang lại, với một bánh xe quay tròn giúp người sử dụng dễ dàng thay đổi những cài đặt mặc định cho máy.


Cũng phải kể đến hệ thống định vị toàn cầu Global Image Locator được tích hợp sẵn trong chiếc máy ảnh này, có khả năng tự động xác định và lưu lại những thông tin về tọa độ địa lý của nơi mà bức ảnh được chụp. Sau đó, với sự hỗ trợ của phần mềm xử lý ảnh mang tên Phocus, những bức ảnh này có thể được "đính" một cách chính xác lên bản đồ địa lý, hoặc dễ dàng được tìm thấy trong hệ thống lưu trữ của những chiếc máy tính có hỗ trợ công nghệ tìm kiếm dựa trên thông số định vị toàn cầu.


H3D II có màn hình 3 inch, giá bán từ 25.000 đến 37.000 USD.
Ảnh: Letsgodigital.

Chiếc D-SLR được Hasselblad quảng cáo là “tốt nhất thế giới” còn được trang bị một loạt tính năng hứa hẹn sẽ loại trừ triệt để hiện tượng nhiễu và nhòe hình trong các bức ảnh chụp được. Phần mềm convert định dạng ảnh RAW của H3D II cũng là phần mềm cao cấp nhất hiện nay. Những tính năng "đỉnh của đỉnh" kể trên có thể lý giải cho mức giá mà nghe qua có thể khiến nhiều người "mướt mồ hôi": 37.000 USD cho thân máy 39 Megapixel. Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng có thể lựa chọn một trong hai phiên bản rẻ tiền hơn, đó là model H3D-31II có độ phân giải 31 Megapixel, với mức giá 30.000 USD và model 22 Megapixel H3D-22II với giá 25.000 USD.


Máy ảnh H3DII-50 - 50 Megapixel




Hasselblad H3DII-50 có cảm biến to gấp đôi cảm biến full-frame của những máy ảnh DSLR thông thường. Ảnh: Hasselblad.

Kích cỡ cảm biến của H3DII-50 là 36 x 48 mm, to gấp đôi so với cảm biến của những chiếc máy ảnh DSLR full-frame thông thường. Với độ phân giải 50 Megapixel, mỗi bức ảnh chụp bởi chiếc camera này có dung lượng lên tới 300 MB. Theo Hasselblad, H3DII-50 là mẫu máy ảnh có độ phân giải lớn nhất trên thị trường hiện nay.


Tốc độ chụp liên tiếp của chiếc máy này là 1 khung hình/giây, dải ISO dao động từ 50 đến 400, có thể tăng lên 800 nếu sử dụng phần mềm Hasselblad Phocus. Theo nhà sản xuất, H3DII-50 mang đến cho người chụp nhiều lựa chọn chỉnh sửa ảnh trên máy hơn so với đời máy trước. Ảnh chụp bởi chiếc camera này cũng có ít nhiễu hơn. H3DII-50 có thể dùng được với tất cả các loại ống kính của Hasselblad.


Hasselblad chưa công bố giá bán chính thức của H3DII-50, nhưng có thể giá của chiếc máy này sẽ không thấp hơn mức 37.000 USD của chiếc H3DII-39 đã ra mắt .

(sưu tầm)
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Old 06-09-2010, 07:32 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Hasselblad bình dân hóa máy ảnh medium format


Phiên bản medium format H4D-40 với 40 triệu điểm ảnh đã chính thức được Hasselblad công bố với giá khoảng 20.000 USD.


H4D-40 với 40 triệu điểm ảnh. Ảnh: Electronista.

Với cảm biến CCD kích cỡ 33 x 44 mm (gần gấp đôi cảm biến full-frame), phiên bản hướng tới nhiếp ảnh gia cao cấp muốn nâng đời lên định dạng medium format này có độ phân giải "hạng trung" 40 triệu điểm ảnh và hệ thống lấy nét "True Focus" vốn được giới thiệu trên các phiên bản H4D 50 và 60 triệu điểm ảnh.


Thông thường, hệ thống lấy nét đơn điểm chỉ lấy nét được đối tượng ở khuôn hình trung tâm. Muốn lấy nét đối tượng ở vùng ngoại vi, người chụp phải đưa đối tượng vào vùng trung tâm, lấy nét, khóa nét rồi rê khung hình về vị trí ban đầu. Chính việc khóa nét và rê khung hình như vậy sẽ nảy sinh ra sai sót về độ nét bởi mặt phẳng nét vuông góc với trục của ống kính đã bị thay đổi theo chuyển động của máy ảnh. Để khắc phục nhược điểm này, các máy DSLR tiên tiến đã ứng dụng cảm biến lấy nét đa điểm, cho phép người chụp khóa nét ở những đối tượng ngoài rìa, nhưng hệ thống lấy nét kiểu này lại vẫn còn rối rắm và không linh động, không thực sự giải quyết triệt để vấn đề.


Vì thế, Hasselblad đã phát triển công nghệ cảm biến mới đo vận tốc góc theo một phương pháp hoàn toàn mới. Kết quả là hãng đã cho ra mắt hệ thống lấy nét True Focus với bộ xử lý khóa vị trí tuyệt đối (Absolute Position Lock_APL). Bộ xử lý này sẽ ghi lại toàn bộ những chuyển động của máy ảnh trong bất kỳ chuyển động căn khung hình nào để từ đó điều chỉnh motor lấy nét bù lại bằng những khoảng xê dịch cần thiết dù nhỏ nhất với một thuật toán tiên tiến sao cho tốc độ lấy nét vẫn đảm bảo đủ êm, đủ nhanh mà không bị trễ. Công nghệ lấy nét True Focus và hệ thống cảm biến APL đều là những công nghệ mang tính đột phá của Hasselblad và đều đã được nộp đơn xin cấp bằng sáng chế.


Cả bộ kít H4D-40 với khung ngắm và ống kính 80 mm sẽ được bán với giá khoảng 20.000 USD kèm thêm phần mềm xử lý tiên tiến Phocus 2.0 của hãng.

Hasselblad - dòng máy ảnh có cảm biến khổ trung bình

Chất lượng hình ảnh và sự gia công chính xác chính là điểm ưu việt mang lại sự nổi tiếng của hãng Hasselblad trong hơn nửa thế kỷ qua.

Dòng máy ảnh mang ký hiệu có tên chữ đầu là H của hãng Hasselblad.

Hasselblad dòng máy ảnh kỹ thuật số có cảm biến khổ trung bình. Sườn thân máy được thiết kế bằng thép không rỉ (sét) và hợp kim nhôm cứng, nhẹ. Điều này cho phép tạo nên một sự cứng và vững, là điểm tựa tốt và chuẩn xác cho các thiết kế về cơ khí chính xác vận hành bên trong, đảm bảo hiệu suất hoạt động rất tin cậy và có độ bền cao.
Các chi tiết của thân máy và ống kính đã được nghiên cứu và phát triển sản xuất trong một tiêu chuẩn cao và cực kỳ chính xác, từ đó cho phép tạo ra một chiếc máy ảnh chất lượng rất tốt, đáp ứng cao về chuyên môn với thiết kế gọn nhẹ nhưng rất bền chắc và lý tưởng, tuy đây là máy ảnh khổ trung bình nhưng bạn có thể cầm sử dụng nó trên tay, làm cho việc chụp ảnh có thể rất cơ động.
Chất lượng hình ảnh và sự gia công chính xác chính là điểm ưu việt mang lại sự nổi tiếng của hãng Hasselblad trong hơn nửa thế kỷ qua, trong các dòng máy của Hasselblad từ các máy phim đã thể hiện rõ sự vượt trội ở loại máy ảnh có khổ trung bình (medium format) .
Hãng Hasselblad lại vừa cho ra mắt máy ảnh kỹ thật số có cảm biến lớn, có kích thước khoảng gấp 2 lần kích thước cảm biến của máy ảnh số cở 35mm, có điểm ảnh nhiều hơn máy ảnh 35mm và độ phân giải tốt hơn hẳn, các điểm ảnh lớn hơn như thế đồng nghĩa với việc tấm ảnh của bạn sẻ rất ít nhiễu (noise) và độ bắt sáng tốt như thế giúp bạn có thể cảm thấy thoải mái và dể dàng khi chụp ảnh trong các điều kiện về ánh sáng khác, cũng như việc ghi nhận các chi tiết và chất lượng ảnh đã được nâng cao là rõ ràng.
Đó là đặc điểm chung của các máy ảnh kỹ thuật số Hasselblad dòng H, mà điển hình ở đây là máy ảnh H4D.





Ống kính có mang màn trập bên trong, được thiết kế theo kiểu ổ trập trung tâm, cho phép đồng bộ flash ở mọi tốc độ chụp, việc này đồng nghĩa với việc cho phép bạn chụp Flash với tất cả các điều kiện về ánh sáng.
Ở các máy ảnh dòng H của Hasselblad, tất cả các máy ảnh với thiết kế hiện đại, chính chiếc máy ảnh là một giao diện mang tính chất rất thân thiện với người sử dụng, thiết kế yếu tố về trực quan cao, mang lại cho bạn nhiều tiện lợi trong khi sử dụng và yêu thích, từ đó bạn sẽ dễ dàng mở rộng phong cách riêng của mình.


(sưu tầm)
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Old 06-09-2010, 07:38 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Trong chúng ta, ai cũng ít nhất một lần được biết và làm quen với dòng máy ảnh số thông dụng hay chuyên nghiệp thường ngày. Những thương hiệu máy ảnh quen thuộc trên thị trường thường thấy như Leica, Polaroid, Pentax, Canon, Nikon, Kodak, Konica, Sony, … vv. Tùy theo từng dòng máy, chất liệu, công nghệ và tính năng sử dụng, giá của chúng cũng sẽ thay đổi theo. Rẻ thì vài trăm usd, cao thì vài ngàn, nhiều thì đến chục ngàn. Những có lẽ, ít ai trong chúng ta biết đến những dòng máy với tính năng và giá thuộc hàng “khủng”.


1. Máy ảnh Hasselblad - H4D-60 ($42,642)




Hasselblad đưa ra giới thiệu dòng sản phẩm mới nhất của họ H4D-60 trong năm 2009 Đánh dấu sự khởi đầu của một chương mới trong lịch sử DSLRs dòng tung. H4D-60 là một phần của nỗ lực của hãng Hasselblad để truyền cảm hứng cho các nhiếp ảnh 35mm, từ đó bước lên hình thành những chất lượng cho dòng máy High-end DSLRs cao cấp. H4D được xây dựng dựa trên nền tảng rất thành công của H3D và tính năng True Focus là một cuộc cách mạng công nghệ. Tính năng cảm biến lên đến 60 megapixel và lấy nét cao một cách dễ dàng và chính xác hơn với tính năng APL (Absolute Position Lock).

Giống như những máy khác của hệ thống H, các H4D đã được thiết kế đặc biệt để đáp ứng nhu cầu về độ chính xác cao nhất từ những đòi hỏi thương mại của nhiếp ảnh gia. Bao gồm hiệu suất và chất lượng hình ảnh.

Tính năng quan trong nhất phía sau dòng máy này, là Hasselblad Natural Solution (HNCS) cho phép đạt được màu sắc phù hợp bằng cách dùng một Single-color profile và những thấu kính đặc biệt “digital lens correction (DAC)” để hoàn thiện từng bức ảnh chụp qua ống kính HC / HCD. Bằng cách loại bỏ những yếu tố làm méo, nét không rõ hay hiệu ứng quang sai. Đây được xem là tính năng hấp dẫn nhất trong dòng H4D mới

Máy sử dụng cảm biến CCD medium format (kích thước 40,2 x 53,7mm) và ống kính trứ danh Carl Zeiss. Sử dụng dòng ống kính HC/HCD gồm có 11 auto-focus lenses. Dùng các ống kính loại có tiêu cự 28-300mm, 35-90 mm zoom, 50-110mm zoom, và 1.7X converter. HTS 1.5 tilt/shift adapter cho phép sử dụng dễ dàng. Không chỉ có độ phân giải cao, Hasselblad H4D-60 có hệ thống chuyển đổi Analog/Digital 16-bit mạnh mẽ.

Phụ kiện
• H4D-60 Camera Body
• HC f/2.8 80mm Lens
• HV 90x-II Full Frame Viewfinder
• Rechargeable Lithium-Ion Battery
• Battery Charger
• Phocus Software
• FireWire Cable
• Lens Hood

Tính năng
• Cảm biến 60Mpixel
• Chuyển đổi tự do viewfinders qua lại giữa hai chế độ eye-level and waist-level
• Chọn lựa point-and-shoot và tilt/shift
• Cho phép chọn chế độ làm việc thích hợi cho máy ảnh giữa tethered và untethered cho cả hai nơi khách nhau trong studio
• Chuẩn ảnh Raw cho phép làm trực tiếp với phần mềm Apple hay Adobe
• LCD 3” double-res (460.320 pixels) TFT 24bit color với góc xem rộng
• Cung cấp 2 tinh năng cơ bảng cho True-Focus và ultra-fast-Auto-Focus
• Tự động lấy nết nhờ chức năng Absolute Position Lock và những điều khiển tinh chỉnh có trong máy
• Làm việc tốt trong môi trường tối và cải tiến lấy nét
• Cho phép lưu trữ dữ liệu trên thẻ nhớ CF hay đĩa cứng của máy tính. Khả năng đọc và ghi lên đến 90 MB/sec khi dùng với thẻ nhớ Pro cards Sandisk

Dòng máy này đi kèm với bộ phần mềm Phocus 2.0 của hãng sản xuất. Dự định những máy đầu tiên sẽ xuất hiện trên thị trường vào tháng giêng năm 2010

2. Các dòng máy Hasselblad
Trong năm 2007, Hasselblad đã giới thiệu dòng sản phẩm H3DII. H3DII là dòng sản phẩm cao cấp tích hợp giữa máy ảnh và cảm biến ảnh hơn những dòng máy ảnh số đơn thông thường, Điểm bất lợi là back-film (*) không được hỗ trợ trong H3DII . Các sản phẩm H3DII hiện bao gồm:


(*) Back Film: Back-film là một loại film được dùng kèm với một thiết bị gọi là “Digital camera back”. Thiết bị kết nối với một máy ảnh KTS, bên trong nó chứa film back-film và một cảm biến ảnh. Thiết bị này cho phép hình ảnh kỹ thuật số khi chụp được in thẳng lên film. Xem hình bên dưới đây


Trong năm 2009, Hasselblad đã giới thiệu dòng sản phẩm H4D Các sản phẩm bao gồm H4D là H4D-50 và H4D-60..


3. Giới thiệu về Hasselblad
Hasselblad là một nhà sản xuất Thụy Điển cho máy ảnh và thiết bị nhiếp ảnh. Có trụ sở tại Gothenburg, Thụy Điển.
Công ty này được biết đến như công ty sản xuất máy ảnh kể từ Chiến tranh thế giới thứ II.

Apollo Programlanded on the Moon Có lẽ việc sử dụng nổi tiếng nhất của máy ảnh Hasselblad được trong nhiệm vụ Chương trình Apollo khi người đàn ông đầu tiên đổ bộ lên Mặt Trăng. Hầu như tất cả các bức ảnh chụp sử dụng máy ảnh Hasselblad.
Một số máy ảnh cũ của Hasselblad ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi bởi nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nghiệp dư. Với phương châm dịch vụ uy tín, lâu dài và chất lượng dòng sản phẩm H cao cấp của họ được sản xuất dựa theo sự hợp tác với Fuji để cạnh tranh với Sinar, Mamiya và những dòng khác trên thị trường máy ảnh kỹ thuật số.

Các máy ảnh Hasselblad đã được NASA chọn vì có khả năng thay đổi ống kính và loại film của họ. Những thay đởi này cho phép dễ dàng sử dụng trong điều kiện chật hẹp và trong khi bận những bộ đồ không gian, chẳng hạn như thay thế các gương phản xạ với một gương eye-level finder.

Những thay đổi do bởi các kỹ thuật viên của NASA đã được đưa vảo sản phẩm mới của Hasselblad. Ví dụ, sự phát triển của loại film 70mm đã được tăng tốc để đáp ứng các chương trình không gian.

Máy ảnh EL điện được sử dụng cho lần đầu tiên trên Apollo 8 và 500EL máy ảnh đã được dùng trên Apollo 11. Nhiều dòng máy HASSELBLAD EL được trang bị với một ống kính đặc biệt Carl Zeiss 5.6/60 mm Biogon đã được sử dụng trên mặt trăng vào nhiệm vụ Apollo 11. Mọi nhiệm vụ NASA sau này cũng dùng máy ảnh Hasselblad trên tàu. Các thiết bị chụp ảnh và bộ phim được sử dụng trên các chuyến bay nhiều năm tiếp theo tương tự như đã được đùng trong Apollo 11. Các kính thiên văn 250mm đã được bổ sung thêm, các máy ảnh cho không gian đều dựa trên dòng EL 500 / M, SỐ 553, 205 TCC và 203 FE

4. Lịch sử phát triển
Công ty được thành lập năm 1841 tại Gothenburg, Thụy Điển, như là một công ty thương mại, FW Hasselblad và Công ty con trai của người sáng lập, Arvid Viktor Hasselblad, đã quan tâm đến nhiếp ảnh và bắt đầu thành lập công ty sản xuất máy ảnh. Trang web của công ty Hasselblad ông nói rằng “tôi không chắc rằng tôi sẽ kiếm được nhiều tiền cho việc này, nhưng ít nhất nó sẽ cho phép chúng tôi chụp ảnh miễn phí”

Năm 1877, Arvid Hasselblad đưa việc xây dựng tòa nhà trụ sở chính Hasselblad và nó được sử dụng cho đến năm 2002. trong thời kỳ đó Arvid Hasselblad gặp George Eastman, người sáng lập của Eastman Kodak. Năm 1888, Hasselblad đã trở thành nhà phân phối duy nhất ở Thụy Điển cho các sản phẩm của Eastman. Những doanh nghiệp này thành công đến nỗi vào năm 1908, các hoạt động sản xuất máy ảnh được tách thành công ty riêng của họ, Fotografiska AB. Hoạt động kinh doanh bao gồm mạng lưới các cửa hàng bán lẻ và các phòng thí nghiệm. Ban quản trị các công ty cuối cùng đã được chuyển qua Karl Erik Hasselblad, là con trai của Arvid (cháu nội của người sáng lập FW). Karl Erik muốn con trai của ông, Victor Hasselblad, có một sự hiểu biết rộng của việc kinh doanh máy ảnh, nên gửi ông đến Dresden, Đức, ở tuổi 18 (khoảng năm 1924), nơi được xem là trung tâm của thế giới về ngành công nghiệp nhiếp ảnh

Victor trải qua nhiều năm theo học tiếp và làm việc trong nhiều lãnh vực nhiếp ảnh khác nhau ở châu Âu và Hoa Kỳ, bao gồm cả thời gian ở Rochester & New York với George Eastman, trước khi trở về nhà để bắt đầu công việc tại gia đình. Do tranh chấp trong gia đình, đặc biệt với cha ông, Victor rời kinh doanh vào năm 1937 và bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình và lập phòng thí nghiệm tại Gothenburg

Hasselblad: bước tiến mới của máy ảnh dòng H


Bằng sự ra mắt của H4D- 40 và mới nhất là H4D- 60, các máy ảnh dòng H của Hasselblad có cảm biến khổ trung bình (medium format) đã nâng chất lượng hình ảnh lên một tầm cao mới.

Cũng dễ dàng sử dụng như các máy ảnh 35mm, H4D-40 có các cảm biến với định dạng khổ trung bình 40 Megapixel, sử dụng phần mềm có tên Phocus 2.0 viết cho Mac và Windows, hỗ trợ cho
  • - Macintosh: OSX.
  • - Windows: XP (32 và 64 bit),
  • - Vista (32 và 64 bit)
  • - Windows 7 (32 và 64 bit).

Hệ thống AF mới có tên là True focus AF, các ống kính đã được thiết kế và sản xuất với nhiều loại tiêu cự khác nhau giúp đáp ứng hầu hết các tình huống có trong nhu cầu chụp ảnh của các nhiếp ảnh gia.



HC/HCD là tên gọi của dòng ống kính cho hình ảnh với độ rõ nét cao. Cũng trong các dòng máy H của Hasselblad, bộ lọc (filter) xử lý giảm thiểu về hạt nhiễu của màu sắc (noise) mới nhất đã được áp dụng.

Hiện nay, có 11 loại ống kính dùng cho dòng máy H, trong đó 9 ống kính có tiêu cự cố định và 2 ống kính zoom. Giá cả tuỳ theo chủng loại, từ 2.100 cho đến 7.205 USD.

HNCS - Hasselblad natural color là tên gọi của giải pháp mới quản lý về màu sắc (duy nhất và riêng của Hasselblad) giúp tái tạo màu sắc tự nhiên phủ hợp. DAC là tên gọi của việc sửa chữa những biến dạng về quang sai và sắc sai trên ảnh chụp.





Các máy ảnh có tên chữ đầu là H của hãng Hasselblad hiện có:
H4D-40

H4D-50
H4D-60
H3DII-31
H3DII-39
H3DII-39MS
H3DII-50
H3DII-50MS
(Các con số phía sau như: 31,39, 40,50,... là số Megapixel của đời máy đó)


(sưu tầm)

Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Old 06-09-2010, 07:44 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Giải thưởng Hasselblad

Giải thưởng quốc tế về nhiếp ảnh của quĩ Erna và Victor Hasselblad, gọi tắt là giải thưởng Hasselblad, được coi là giải thưởng cao quí nhất về nhiếp ảnh trên thế giới hiện nay. Giải thưởng này được trao tặng hàng năm, bắt đầu từ năm 1980 (trừ năm 1983-năm mất của Erna Hasselblad), cho một nhiếp ảnh gia đạt được những “thành tựu quan trọng”.

Giải thưởng được công bố vào ngày 8/3 hàng năm (ngày sinh của Victor Hasselblad) và được trao vào tháng 10 hay tháng 11.

1980: Lennart Nilsson, Stockholm, Thụy Điển
Lennart Nilsson là một trong những phóng viên ảnh xuất sắc của Thụy Điển trong một thời gian dài trước khi dành được sự nổi tiếng như là một nhiếp ảnh gia khoa học. Tác phẩm của ông đã chuyển về các nghiên cứu chi tiết của những đối tượng cơ bản: thế giới tự nhiên và cơ thể con người. Để mở rộng tầm mắt của con người vào thế giới bên trong cơ thể, Lennart Nilsson làm việc với các dụng cụ phóng đại mạnh như các loại kính hiển vi dạng quét electron và các máy nội soi cực mỏng được thiết kế đặc biệt. Ông đã miêu tả được một cơ thể người mới hình thành phát triển như thế nào, cũng như một số những kẻ thù đáng sợ nhất của chúng ta như tế bào ung thư và vi rút bệnh tả. Tác phẩm của ông cho thấy một sự kết hợp tuyệt vời của một tài năng nghệ thuật, sự hiểu biết về sinh học và sự thành thạo kĩ thuật.
1981: Ansel Adams, Carmel, California, Hoa Kỳ
Ansel Adams là một bậc thầy trong trường phái nhiếp ảnh phong cảnh truyền thống. Với sự sáng suốt và sự chính xác, ông hình dung những điểm nhìn ngoạn mục với những chi tiết giàu tính bản địa của miền Tây nước Mỹ. Năm 1942 Ansel Adams phát triển “hệ thống vùng” (zone system) áp dụng việc thận trọng kiểm soát độ nhạy sáng ,điều chỉnh đo sáng và tráng rửa phim ảnh. Với tư cách là một nghệ sĩ, một nhà giáo, và một bậc thầy về kĩ thuật nhiếp ảnh, ảnh hưởng của Ansel Adams đã được nhận thấy qua nhiều thế hệ liên tiếp các nhà nhiếp ảnh trên toàn thế giới.

1982: Henri Cartier-Bresson, Paris, Pháp
Henri Cartier-Bresson có một ảnh hưởng quyết định trong nhiếp ảnh tư liệu sáng tạo trong nửa thế kỉ với số lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh đã chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm của ông. Ông là nhà nhiếp ảnh đầu tiên đã làm chủ được nghệ thuật ghi lại hiện thực trong dòng chảy liên tục của nó, và đêo gọt sự nhẩt thời thành những bố cục nhiếp ảnh chi tiết và chặt chẽ. Với Cartier-Bresson, nhiếp ảnh là cách ông kể lại các câu chuyện về cuộc sống. Ông nhìn một bức ảnh như một tư liệu, nhiếp ảnh như một nghệ thuật tư liệu. Năm 1947 Cartier-Bresson, Robert Capa, David Seymour và một số người khác đã thành lập hãng ảnh nổi tiếng Magnum.

1983: Không trao giải.
1984: Manuel Alvarez Bravo, Mexico City, Mexico
Manuel Alvarez Bravo từ lâu đã được đánh giá là một trong những người làm mới nhiếp ảnh đương đại. Các tác phẩm của ông chủ yếu được biết đến bởi tính biểu tượng, sự trữ tình và giàu tính tượng hình, bắt rễ tử lịch sử và những truyền thống văn hóa của Mê-hi-cô. Ông đã làm cho thế giới biết đến văn hóa Mê-hi-cô một cách đầy sinh động. Nétđặc trưng trong ảnh của Alvarez Bravo là trực tiếp và không bị thao tác. Ông đã thành công nhờ vào việctrung thành và tôn trọng sự làm chủ của những yếu tố ánh sáng, tông màu và bố cục. Các tác phẩm của ông có tính hình tượng mạnh mẽ. Điều đó khiến cho Alvarez Bravo trở thành một khuôn mặt đầu đàn cho nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Mĩ La tinh.

1985: Irving Penn, New York City, New York, Hoa Kỳ
Irving Penn từ lâu đã được biết đến là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu thế giới của nhiếp ảnh xuất bản, quảng cáo và thời trang. Kể từ khi các bức ảnh của ông bắt đầu xuất hiện đều đặn trên tạp chí Vogue những năm 1940, các tác phẩm của ông đã được đặc trưng bởi sự lịch lãm kĩ thuật, sự đòi hỏi về tiêu chuẩn của phong cách và sự nhạy cảm với chất lượng của ánh sáng. Irving Penn là một trong số rất ít những nhà nhiếp ảnh sở hữu khả năng sản xuất những bức ảnh vừa mang tính nghệ thuật bậc thầy vừa mang tính thương mại.

1986: Ernst Haas, New York City, New York, Hoa Kỳ
(Ernst Haas qua đời một tháng trước khi lễ trao giải được cử hành)
Ernst Haas là một trong những tên tuổi đương đại hàng đầu trong nhiếp ảnh mầu.Đóng góp của ông cho nhiếp ảnh đen trắng trong một thời gian dài đã bị đánh giá thấp nhưng về sau đãđược ưa chuộng. Ernst Haas đã rất cẩn thận gìn giữ sự tự do chọn lựa bằng cách không cho phép bản thân bị ràng buộc bởi bất cứ tờ báo nào. Ông chọn lựa hướng đi của riêng mình và làm việc theo nhịp của mình cho đến khi chất liệu hình ảnh đạt được tiêu chuẩn mà chính ông đòi hỏi. Ernst Haas đã trình bày có hệ thống những trải nghiệm thị giác với chiếc máy ảnh và kĩ thuật nhiếp ảnh một cách mới mẻ, sáng tạovà đặc biệt mang tính cá nhân cao.

1987: Hiroshi Hamaya, Tokyo, Nhật Bản
Hiroshi Hamaya là một trong những nhà nhiếp ảnh tư liệu xuất sắc nhất của Nhật Bản hiện tại. Các chủ đề của ông là con người và thiên nhiên. Tuy nhiên mối quan tâm của ông với thiên nhiên không giới hạn ở đồng quê Nhật Bản mà còn mở rộng tới thiên nhiên chưa bị tàn phá trên toàn thế giới. Một phần trong việc ghi lại thiên nhiên, Hamaya cũng đã lưu lại hình ảnh cuộc sống con người trong nhiều biến thể của nó. Cho dù ông chủ định trong những bức ảnh của mình là những sự ghi lại mang tính khoa học, chúng vẫn có một biểu diễn thẩm mĩ: Hamaya đã tạo nên một dạng nghệ thuật của nhiếp ảnh tư liệu.

1988: Edouard Boubat, Paris, Pháp
Edouard Boubat đã được biết đến từ những năm 1940 qua những bức ảnh của ông. Ông là một người theo chủ nghĩa nhân đạo và là một người sáng tạo hình ảnh độc đáo, duy nhất. Boubat là một người kể chuyện, người muốn nắm bắt con người, thái độ và cuộc sống thường nhật của họ trên phim. Ông lột tả con người và khung cảnh với sự ấm áp và những bức ảnh của ông nói về tình yêu, niềm vui và sự kiêu hãnh của con người. Bức ảnh nổi tiếng đầu tiên của Boubat là bức ảnh một đứa trẻ người Pháp em bé quấn quanh mình những chiếc lá úa. Bức ảnh đó được chụp năm 1946 khi ông 23 tuổi và nó đã ghi lại được không khí nước Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.


1989: Sebastião Salgado, Paris, Pháp
Sebastião Salgado là một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu và được biết đến rộng rãi trong giới nhiếp ảnh báo chí về phóng sự xã hội lao động đương đại. Ông đã chứng tỏ một khả năng độc đáo trong việc kết nối tínhbáo chí, tính riêng tư, mối liên hệ chặt chẽ và sự dấn thân trung kiên và thẩm mĩ nhiếp ảnh. Ông sử dụng phương tiện của mình để kể về những cuộc sống của con người, những cuộc sống mà ông đã quan sát với sự tôn trọng dù bối cảnh của chúng có khắc nghiệt đến đâu. Những bức ảnh của ông rất cảm động và quan trọng để giúp ta hiểu về con người và các nền văn hóa. Tác phẩm của ông cũng là khởi nguồn cho các dự án như “Bác sĩ không biên giới”.


1990: William Klein, Paris, Pháp
William Klein nằm trong số những người đổi mới của nhiếp ảnh hiện đại. Những miêu tả chủ quan của ông về cuộc sông đường phố và thế giới nguyên bản của thời trang được đặc trưng bởi một sự trần tục mang tính tư liệu và tính khắt khe về hình dạng, một “nghệ thuật thô” (‘art brut’) hậu chiến.


1991: Richard Avedon, New York City, New York, Hoa Kỳ
Trong hơn 40 năm, Richard Avedon luôn là một gương mặt trụ cột của nghệ thuật nhiếp ảnh hiện đại. Đặc biệt, các tác phẩm của ông trên các tạp chí Harper’s Bazaar và Vogue đã đóng góp cho “một cái nhìn mới” trong nhiếp ảnh thời trang và đồ họa. Nghệ thuật nhiếp ảnh quảng cáo của ông gây kinh ngạc bởi sự tinh tế thị giác của nó và trên cương vị là một nhà nhiếp ảnh chân dung, Richard Avedon nằm trong những nhà nhiếp ảnh đương đại xuất sắc nhất



Trả Lời Với Trích Dẫn
  #5  
Old 06-09-2010, 07:44 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

1992: Josef Koudelka, Prague, Cộng hòa Séc
Josef Koudelka là một trong những nhiếp ảnh gia vĩ đại nhất của thời đại. Qua những năm tháng vòng quanh thế giới của mình, ông đã miêu tả những hoàn cảnh con người ở nhiều đất nước trong các bức ảnh của ông, chẳng hạn cuộc sống thường nhật của những người Di-gan, các lễ hội và di sản văn hóa của họ. Những bộ ảnh của ông được đặc trưng bởi sự nghiêm ngặt về hình thức và cái nhìn nên thơ. Chúng cũng diễn tả một cam kết nhân văn mạnh mẽ và chủ nghĩa hiện thực xã hội-tư liệu.


1993: Sune Jonsson, Umeå, Thụy Điển
Qua gần nửa thế kỉ, Sune Jonsson đã lột tả sự cô độc và vẻ đẹp khô cằn của phong cảnh miền Bắc Thụy Điển và cuộc sống lao động vất vả hàng ngày của những con người đơn giản. Những hình ảnh không phô trương, lặng lẽ nhưng sống động đã đem lại cho chúng ta tổng quan về một xã hội đang chuyển mình. Trong nhiều cuốn sách, qua nhiều năm, ông đã dệt bằng ngôn từ và hình ảnh để mang lại những tư liệu độc đáo với tinh thần của dự án Hành chính an ninh nông thôn (Farm Security Administration) tại Mỹ.


1994: Susan Meiselas, New York City, New York, Hoa Kỳ
Susan Meiselas, một trong những nhà nhiếp ảnh hàng đầu của truyền thống nhân văn-tư liệu, đã miêu tả những con người trong sự đấu tranh của họ cho sự công bằng xã hội và nhân phẩm, như ta có thể thấy trong các tác phẩm có ảnh hưởng lớn của bà từ những cuộc cách mạng Nicaragua và El Salvador, những tác phẩm đã phản ánh sự đấu tranh sâu sắc.Trong các bức ảnh của Susan Meiselas có một sự căng thẳng trong quan hệ qua lại giữa hình thức và nội dung xã hội.


1995: Robert Häusser, Mannheim, Đức
Robert Häusser là một trong những nghệ sĩ ảnh đương đại của nhiếp ảnh Đức. Các tác phẩm của ông có thể được miêu tả như một sự mở rộng và phát triển của “nhiếp ảnh chủ quan” (“subjective photography”), thể loại ra đời và được chú ý ở châu Âu trong những năm hậu chiến. Những nghiên cứu tạo hình và hàm xúccủa ông về phong cảnh và kiến trúc là sự kết hợp của sự giản lược tinh tế những điểm chính của các chủ đề, với sắc thái đen tối lặng lẽ. Tác phẩm của Häusser gợi mở sự tương tác phức tạp giữa bề nổi và chiều sâu.


1996: Robert Frank, New York City, New York, Hoa Kỳ
Robert Frank là một trong những nghệ sĩ thị giác hàng đầu thế giới hiện nay. Ông đã góp phần vào sự làm mới trong lĩnh vực nhiếp ảnh phóng sự và nhiếp ảnh nghệ thuật cũng như trong “nghệ thuật phim Mỹ độc lập”. Với xuất phát điểm là chủ nghĩa hiện thực khách quan của nghệ thuật những năm 1930, Frank đã tiếp tục theo đuổi sự tìm kiếm chân lý theo con đường riêng của mình, bằng bất kỳ phương tiện sáng tác nào, với một sự miệt mài và quyết tâm. Những hình ảnh của ông đã có một ảnh hưởng quyết định đối với nhiều thế hệ nhà nhiếp ảnh, họa sĩ, nhà làm phim, nhà phê bình và nhà văn.


1997: Christer Strömholm, Stockholm, Thụy Điển
Từ những năm 1950 Christer Strömholm đã là một trong những nhà nhiếp ảnh vùng Scandinavia đầu đàn và là nhà nhiếp ảnh hậu chiến đầu tiên giành được tiếng tăm quốc tế. Ngay từ những năm 1950 ông đã trở thành thành viên của nhóm nhiếp ảnh Đức Fotoform, và trong thời giansống ở Paris vào cuối thập kỉ đó, ông đã phát triển một ngôn ngữ nhiếp ảnh tương tự như thuyết sinh tồn. Những bức ảnh của Strömholm đã đóng góp to lớn cho việc xây dựng nhiếp ảnh như một nghệ thuật độc lập tại châu Âu. Ngoài ra, bằng khả năng sư phạm huyền thoại của một nhà giáo nhiếp ảnh, ông đã có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà nhiếp ảnh Scandinavia.


1998: William Eggleston, Memphis, Tennessee, Hoa Kỳ
William Eggleston là một trong những nhiếp ảnh gia tiên phong quan trọng trong lĩnh vực ảnh màu từ những năm 1970. Với nhãn quan độc đáo của mình về thế giới thực tại, đặc biệt là về vùng phía Nam nưóc Mỹ, ông đã phát triển ảnh màu như một chất liệu tạo hình độc lập. Ông cũng sử dụng đến tận cùng khả năng của màu sắc, nhìn nó như một đặc tính cơ bản của nhận thức. Với Eggleston, màu sắc đã trở thành một khía cạnh sống còn của việc ghi lại cuộc sống thường nhật và những cái xung quanh nó. Ông đã đưa vào một thẩm mĩ mới, một con đường “dân chủ” mới trong cách nhìn- bị ảnh hưởng nhièu bởi cách nhìn cá nhân hơn là những kiểu mẫu về phong cách trước đây. Cũng giống việc Robert Frank đã lập nên một thẩm mĩ không chính thống nổi trội trong những năm 1950, trong những năm 1970 William Eggleston đã biến đổi khả năng của những điều có thể diễn tả bằng màu sắc.


1999: Cindy Sherman, New York City, New York, Hoa Kỳ
Cindy Sherman đã thiết lập một định hướng mới cho nhiếp ảnh đương đại trong những năm 1970. Với phong cách nhiếp ảnh dàn dựng của mình, bằng việcbố trí chính mình như nhân vật trung tâm trong một tập hợp phức tạp những kịch bản, Cindy Sherman đã khám phá và thách thức những định kiến xã hội, phê bìnhvà văn hóa nặng nề. Nhiều tác phẩm của bà quan tâm đến vị trí của phụ nữ trong xã hội tiêu dùng và ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông thời bấy giờ, cũng như phản ánh sự châm biếm và phi lí trong cuộc sống của người phụ nữ đương đại. Bà cũng có thể được coi là nhiếp ảnh gia tiêu biểu đã tái tạo lại hai truyền thống nhiếp ảnh quan trọng trong nghệ thuật nhiếp ảnh là: chủ nghĩa siêu thực của những năm 1930 và nghệ thuật ý niệm dựa trên nhiếp ảnh của những năm 1960. Ảnh hưởng của Cindy Sherman trên những thế hệ các nghệ sĩ và nhà nhiếp ảnh đã và còn tiếp tục lan rộng vô cùng sâu sắc.


Trả Lời Với Trích Dẫn
  #6  
Old 06-09-2010, 07:46 AM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Hasselblad 500C/M





Tôi không hiểu sao mình có thể hoàn toàn thờ ơ trước những lần khai sinh đầy ngoạn mục của các thế hệ Hasselblad kỹ thuật số, dù chúng đẹp tân kỳ như những vật thể đến từ hành tinh khác, và hiển nhiên – không phải là những cái máy số “ất ơ”, nghiệp dư.

Mea Culpa. Lỗi tại tôi mọi đàng. Vì tôi đã trót dành trọn tình yêu cho những “sinh vật” Hassy cổ điển. Dòng máy V series.

Cái tên Hasselblad, đọc đúng giọng Bắc Âu, gợi cho tôi sự mềm mại của lụa và lưỡi sắc của một thanh gươm. H.a.ss.e.l… uốn lượn như dòng lụa chảy dài trên những chiếc ghế tựa Louis. Blad… cứng lạnh, như một vết cắt trên bụng mình khi chàng samurai tự sát theo seppuku. Vì những tưởng tượng ấy, cầm trên tay một máy Hasselblad 500C/M, tôi như thể tiếp nhận được hai dòng khí lực Âu Á chảy khắp châu thân, như thể đang sở hữu một linh hồn, một vật truyền thừa của những cá nhân ưu tú nhất, những thế hệ vinh quang nhất, những truyền thống trọng danh dự nhất. Cầm nó trên tay, hình như không ai có thể nảy tà ý, không ai dám chụp những thứ nhảm nhí. Hasselblad là một linh vật có khả năng biến cải kẻ sở hữu nó.

Ở Việt Nam, những ai đang sở hữu Hasselblad 500C/M để làm nên một mùa cổ điển giữa thế kỷ hăm mốt? Bạn sẽ trả lời, những người bán máy ảnh, dĩ nhiên. Nhưng dân kinh doanh máy ảnh khó mà dành tình yêu cho riêng một thương hiệu, và trong thương hiệu đó, riêng một series nào đó. Họ phải yêu… đều, hoặc yêu loại máy nào đem lại lợi nhuận cao. Thế thì ai? Theo tôi biết, có những nhiếp ảnh gia Việt đặc biệt thích Hasselblad: Bùi Xuân Huy, Lê Thanh Hải, Dương Minh Long, Trần Huy Hoan. Họ đã cầm hầu như tất cả các máy ảnh các hiệu trên tay, và cũng có thể yêu một hiệu máy nào khác Hassy, nhưng bao giờ trong bộ sưu tập máy cá nhân, họ vẫn giữ lại một chiếc 500C/M. Như một bảo vật. Như một thứ huy chương nhà nhiếp ảnh tự trao cho mình.

Cũng bởi Hassy chụp phim khổ vuông.

Bạn có để ý điều ấy không? Hình ảnh khổ vuông hoàn toàn là một khái niệm phi thực tế: mắt người không nhìn cảnh vật đóng khung vuông bao giờ. Hình ảnh khổ vuông sinh ra từ ngành graphic design, từ khi người ta phải thiết kế vỏ những chiếc đĩa nhựa 78, 45 và 33 vòng, và mấy mươi năm sau, bìa CD cũng hình vuông! Để phục vụ cho yêu cầu thiết kế, khổ phim vuông 6 x 6 (chính xác là 56mm x 56mm) ra đời cùng với Hasselblad.

Ngay cả cách thiết kế khung ngắm vuông góc ống kính (ngắm từ trên xuống) và hình ảnh trong khung bị lật ngược trái/phải cũng là một thách thức – và do đó – thành một phong cách. Bạn sẽ phải tập quen với sự ngược ngạo này. Và khi chụp với ống ngắm trên như thế, máy ngang bụng, bao giờ bạn cũng có xu hướng chếch máy lên. Lại một phong cách nữa!

Người ta có chế ra loại ống ngắm 45 độ để bạn có thể ngắm thẳng như những máy phản xạ gương nhỏ; ống ngắm này còn gắn thêm máy đo sáng và đảo ảnh thành xuôi như thực tế, song ít ai chụp Hasselblad thích loại ống ngắm “tân kỳ” ấy. Một nhiếp ảnh gia thời trang nổi tiếng Pháp, Jean-Baptiste Mondino nếu tôi nhớ không lầm, đã nói, “Thật ngốc khi lắp cái ống ngắm thẳng kia vào chiếc Hassy. Nó kệch cỡm và giết chết tinh thần Hassy!”

Bạn có tin được không, 500C/M không dùng một viên pin nào. Tất cả hệ thống cơ khí tinh xảo được bảo dưỡng bằng một loại dầu bôi trơn đặc biệt mà theo một tài liệu chưa được kiểm chứng, loại dầu này có tuổi thọ 150 năm. 150 năm không cần bảo trì, trời ơi!

Vỏ Hassy bằng thép, tất cả các ốc vít được giấu kín bằng lớp simili đen dán phủ bên ngoài. Nhiều khi, ngắm chiếc Hassy của mình, tôi có cảm giác đây là một chiếc thiết vận xa tồn tại qua mọi mưa bom bão đạn.

Một người bạn thân làm graphic artist bảo tôi, này, cứ Hassy ống kính 80mm là “giã” nhé, chớ dại mà digital. Không cần lời dặn ấy, tôi cũng chẳng tìm thấy thứ gì trên đời thay thế được chiếc Hassy của tôi, chiếc máy mà mỗi vết mòn, vết trầy đều có một câu chuyện liên quan.

Hassy của tôi không chỉ là một chiếc máy ảnh. Nó là vật thể tạo nên mùa cổ điển. Nó phả ra một khí hậu cổ điển cho những giấc mơ của tôi.

Nhạc sĩ Quốc Bảo
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #7  
Old 06-09-2010, 10:56 AM
Neapolitan's Avatar
Neapolitan Neapolitan vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Administrator
 
Tham gia ngày: Thu Apr 2010
Bài gởi: 6,374
Default

Hasselblad là vua của tất cả các loại máy ảnh, chấm hết .

Đồ cổ của tui nè, hồi xưa có 1 bộ 503 và 1 bộ 501 làm xơ cua, giờ còn giữ lại bộ 501 làm kỹ niệm . Và mấy tấm hình cách đây gần 20 năm .
Attached Images
File Type: jpg DSC_0004.jpg (30.0 KB, 0 lần tải)
File Type: jpg scan0003.jpg (69.8 KB, 0 lần tải)
File Type: jpg scan0005.jpg (36.9 KB, 1 lần tải)
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Old 08-09-2010, 12:22 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Còn mấy cái nầy thì sao ông Neo ?

Máy ảnh 160 Megapixel



Không chỉ ghi danh vào bảng xếp hạng những mẫu máy ảnh có độ phân giải lớn nhất hiện nay, với cảm biến 160 Megapixel, Seitz 6x17 Digital còn sở hữu những thông số kỹ thuật đáng để mơ ước.


Seitz 6x17 Digital có cảm biến 160 Megapixel. Ảnh: Letsgodigital.

Ngoài cảm biến có độ phân giải 160 Megapixel, chiếc máy ảnh này còn có ISO tối đa lên tới 10.000 và tốc độ trập 1/20.000 giây. Một bức ảnh chụp ở độ phân giải 160 triệu điểm ảnh (tương đương 7.500 x 21.250 pixel) có dung lượng lên tới gần 1 GB. Do đó, các loại thẻ nhớ thông thường sẽ trở nên vô dụng khi gặp chiếc máy ảnh này. Để giải quyết vấn đề lưu trữ, Seitz Phototechnik AG đã tích hợp cho chiếc camera của mình một ổ cứng đi kèm. Các file ảnh sau khi chụp xong sẽ tự động chuyển tới ổ cứng với tốc độ 300 MB/giây.


Với việc hỗ trợ các tỷ lệ ảnh 6:6, 6:9, 6:15 và 6:17, người dùng Seitz 6x17 Digital có thể lựa chọn những khung hình phù hợp nhất với ý định chụp của mình. Máy cũng có thể được điều khiển từ xa thông qua kết nối không dây với máy tính. Bên cạnh đó, Seitz 6x17 Digital còn có thể dùng được với các ống kính Schneider và Rodenstock cả cũ lẫn mới. Chất lượng những bức ảnh chụp bằng chiếc máy này rất cao, với độ sâu của màu sắc lên tới 48 bit RGB, lượng nhiễu thấp và dải động rất rộng.


Tất nhiên, giá bán của Seitz 6x17 Digital cũng phải tương xứng với thân hình cồng kềnh, những tính năng "khủng" và chất lượng đỉnh cao của máy. Người tiêu dùng sẽ phải bỏ ra 36.266 USD mới có thể sở hữu body của máy.
Phiên bản di động của camera 160 mpx.

http://sohoa.vnexpress.net/SH/Camera/2007/11/3B9AEF2C/

Máy ảnh hàng khủng của Mamiya




Ngày 2 tháng 6 vừa qua, tại Elmsford, New York, hãng Mamiya đã công bố mẫu máy ảnh kỹ thuật số sử dụng cảm biến Medium format, là loại cảm biến có kích thước lớn nhất cho máy kỹ thuật số hiện nay.

RZ33 được Mamiya sản xuất dành cho các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.
Mamiya RZ33 thỏa mãn sự mong đợi của những ai đi theo dòng máy Medium Format

Mamiya RZ33 có cảm biến kiểu CCD 33 megapixel, nâng tầm cho dòng máy Mamiya RZ đang rất được ưa chuộng đến một kỷ nguyên cho máy ảnh kỹ thuật số sử dụng cảm biến kích thước lớn. Không cần cáp kết nối, người sử dụng RZ33 chỉ cần gắn những ống kính RZ nổi tiếng của Mamiya và một thẻ nhớ CF là đã sẵn sàng để có những tấm ảnh chất lượng tuyệt hảo
Ngày nay, với những đòi hỏi của nhiếp ảnh gia để cung cấp cho khách hàng những tấm ảnh có chất lượng cao cấp hơn, bộ máy ảnh RZ33 chính là kết quả của một quá trình tiến hóa đến một thế hệ mới của nhiếp ảnh kỹ thuật số khi sử dụng cảm biến cỡ lớn. RZ33 được cung cấp một công nghệ vi xử lý dành riêng cho việc giao tiếp trực tiếp giữa những chức năng của máy ảnh với cảm biến 33MP thông qua hệ thống MSC ((Mamiya Serial Communication - Hệ thống giao tiếp tuần tự của Mamiya) và điều này đã giải thoát người sử dụng khỏi sợi dây cáp nối với máy ảnh như những thế hệ máy ảnh phim kích thước trung (Medium format) truyền thống.
Hệ thống ống lấy nét có thêm nút khóa nét và hỗ trợ lấy nét cự ly cực gần dành cho tất cả các loại ống kính RZ, hỗ trợ cả việc lấy nét ở vô cực mà không cần thiết bị chuyển cồng kềnh như trước. Những ống kính với chất lượng nổi tiếng của RZ với màn chập tích hợp sẵn cho thiết đặt tốc độ chụp từ 1/400 giây tới 8 giây. Thiết bị đồng bộ điện tử với đèn flash với mọi tốc độ chụp và những tốc độ chụp trung bình có thể được thiết đặt ngay trên máy bằng bánh xe điều khiển. Lỗ ngắm phía sau là loại có thể thay đổi được cho phép người sử dụng có thể tùy chọn nhiều kiểu ngắm
Máy ảnh RZ33 cho phép chụp khoảng 1 giây 1 tấm hình (không như những loại máy ảnh cảm biến nhỏ hoặc full-frame mà chúng ta vẫn hay gặp, tốc độ này khá tốt đối với máy ảnh Medium Format). Bên cạnh đó, máy ảnh RZ33 cũng tích hợp các thiết bị nhận tín hiệu điều khiển từ xa cho máy bằng hồng ngoại hoặc sóng radio. Tất cả những ống kính và phụ kiện hiện đang dùng trên các máy ảnh dòng RZ đều có thể sử dụng được trên máy ảnh RZ33 này
Một số thông số kỹ thuật của RZ33:
- Định dạng file ảnh: là định dạng kiểu ảnh thô (RAW) với file ảnh có đuôi là mos, 16 bits/chanel
- Phần mềm xử lý ảnh đi kèm: Capture One DB và Leaf Capture
- Cảm biến CCD, kích thước 48mm x 36mm, 33 Megapixel
- Dung lượng file ảnh lớn nhất: 160MB cho định dạng TIFF 16 bit
- Dải ISO: từ 50-800
- Tốc độ ghi hình: 1 ảnh/1 giây
- Giao diện người dùng: màn hình cảm ứng LCD kích thước 6x7cm

Máy ảnh Mamiya RZ33 sẽ được bán ra vào tháng 07/2010 với giá khoảng 17.990USD tại thị trường Mỹ


http://home.vnn.vn/may_anh_hang_khung_cua_mamiya-201785344-642523417-0
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #9  
Old 08-09-2010, 12:41 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Máy ảnh "khủng" độ phân giải



Camera này được trang bị tới 74 cảm biến CCD dùng trong lĩnh vực thiên văn và vật lý học.



Camera này có độ phân giải 570 Megapixel. Ảnh: Fermilab.

Chiếc máy ảnh cỡ lớn được nói tới phát triển bởi một nhóm các nhà vật lý và thiên văn học tại phòng thí nghiệm Fermilab. Camera có độ phân giải lên tới 570 Megapixel này dùng để chụp ảnh chi tiết vũ trụ và giúp các nhà khoa học giải mã các bằng chứng về năng lượng tối


Máy ảnh này có giá cũng tương xứng ở mức 35 triệu USD, và khi hoàn thành nó sẽ được lắp đặt vào một kính viễn vọng tại Chile.

www.wired.com/magazine/2009/12/st_darkenergy_camera/

Máy ảnh khủng long Pentax 645D có cảm biến 40 Megapixel

Các fan của Pentax đã có thể vui mừng vì mẫu camera cao cấp này của Pentax đang được hoàn thiện.

Nguyên bản của Pentax 645D có cảm biến ảnh 30 megapixel giờ đây được nâng cấp lên sức mạnh “quái vật” 40 MP. Bộ cảm biến có nguồn gốc Kodak với kích cỡ 44 x 33 mm, to gần gấp đôi so với các loại máy ảnh DSLR thông thường. Vì lý do này, kích thước của toàn body trở nên cồng kềnh hơn hẳn. Vẫn chưa có số đo kích cỡ thân máy. Giao diện các nút điều khiển có vẻ được thiết kế tương tự như người anh em K7 cũng của Pentax.


Tốc độ chụp chỉ vào khoảng 1 khung hình mỗi giây, chính vì vậy Pentax 645D chỉ phù hợp chụp ảnh phong cảnh hoặc ảnh sinh hoạt thông thường chứ không hợp chụp tốc độ cao hoặc ảnh thể thao, nhiều chuyển động. Máy có màn hình hiển thị LCD cỡ 3inch, góc nhìn khoảng 170 độ. 645D có hệ thống cản bụi mới và có tới 2 khe gắn thẻ SDHC. Dự kiến “quái vật” máy ảnh này sẽ có mặt vào cuối năm 2010 với giá khá đắt: 10000 USD (tương đương khoảng 190 triệu VNĐ).


(sưu tầm)



Trả Lời Với Trích Dẫn
  #10  
Old 08-09-2010, 12:46 PM
kimquiufc's Avatar
kimquiufc kimquiufc vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Member
 
Tham gia ngày: Wed Apr 2010
Bài gởi: 1,692
Default

Những chiếc máy ảnh kỳ lạ





\


4














4 ]+ y+ ?+ Q' q4 Y+ P
4



" M7 i# m






Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Mở

Chuyển đến

VKA


Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:40 AM.


Powered by: vBulletin Version 3.8.2 Copyright © 2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.